Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2024/HS-ST

Ngày: 29/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân Khánh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Nam

Ông Nguyễn Trọng Vinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 188/2024/TLST-HS ngày 11/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2024/QĐXXST-HS ngày 18/10/2024, đối với bị cáo:

Trần Hải Thành D,

sinh năm 2000 tại: Đồng Nai. Nơi cư trú: ấp A, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc H (đã chết) và bà Võ Thị Thùy T, sinh năm 1967; có vợ tên Trần Yến N, sinh năm 2000, có 01 người con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không;

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L cho đến nay.

- Người chứng kiến:

  1. Anh Huỳnh Văn D1, sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  2. Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp A, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt; người chứng kiến vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Hải Thành D là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2023, loại và hình thức sử dụng là hút ma túy đá (Methamphetamine).

Vào khoảng đầu tháng 7/2024, qua bạn bè giới thiệu D quen biết với một người đàn ông bán ma túy tên “Lu” (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 06/7/2024, L gọi điện cho D hỏi “có mua ma túy không”, D đồng ý và dặn L để cho 1.000.000 đồng ma túy đá. L đồng ý và yêu cầu D bỏ tiền vào trong gói thuốc lá để ở khu vực gần trường mầm non “Tuổi thơ”, thuộc ấp A, xã B, thành phố L. D làm theo yêu cầu của L. Một lúc sau, L gọi điện thoại cho D ra lấy ma túy trong hộp màu đen để ở trước cổng trường mầm non “Tuổi thơ”. Sau khi mua được ma túy, D mang về nhà chị Phạm Thị T1, sinh năm 1995, ngụ tại ấp D, xã B, thành phố L (nơi D ở nhờ) chia số ma túy trên thành 07 bịch ma túy nhỏ. Sau đó, D lấy 01 bịch ma túy nhỏ bỏ vào trong gói thuốc lá S, cất giấu trong túi quần bên trái của mình, còn 06 bịch ma túy nhỏ còn lại D cất giấu trong hộp giấy màu đen, để dưới chân ghế, trong phòng ngủ của chị T1 (chị T1 không biết việc D cất giấu ma túy tại đây).

Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, D đi bộ trên đường số B, thuộc ấp A, xã B, thành phố L để tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị Công an thành phố L kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên trái D đang mặc trên người có 01 gói thuốc lá S, bên trong có 01 bịch ma túy đá. Công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong tang vật.

Tiếp tục khám xét nơi D ở tại nhà chị T1, D tự nguyện giao nộp 06 bịch ma túy đá cất giấu trong hộp giấy màu đen, để trong phòng ngủ chị T1. Công an tiến hành niêm phong tang vật và đưa D về làm việc.

Tại bản kết luận giám định số 1396/KL-KTHS ngày 11/7/2024, Phòng K Công anh tỉnh Đồng Nai kết luận:

Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,358 gam, loại: Methamphetamine.

Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 2,155 gam, loại: Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 178/CT-VKSLK ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: 1. Đề nghị tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định; 2. Đề nghị tịch thu sung công 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu hồng (đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 06/7/2024, Công an thành phố L phối hợp với công an xã B, thành phố L tiến hành tuần tra hành chính tại đường số B, ấp A, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai phát hiện bắt quả tang bị cáo Trần Hải Thành D đang tàng trữ 0,358 gam ma túy (loại: Methamphetamine) đựng trong bao thuốc lá nhãn hiệu S; tiếp tục khám xét nơi ở của bị cáo phát hiện và thu giữ 2,155 gam ma túy (loại: Methamphetamin) đựng trong 06 gói nylong cất giấu trong phòng ngủ, tổng lượng ma túy bị cáo tàng trữ và bị bắt quả tang là 2,513gam M. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, ma túy còn là nguyên nhân của các tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, nhằm tạo một môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh, không có tệ nạn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hiểm họa của ma túy, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
  4. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  5. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
  6. Về vật chứng:
    • - 01 (Một) phong bì niêm phong số 1396/KL-KTHS ngày 11/7/2024, bên trong có chứa khối lượng ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
    • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu hồng (đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong) là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  8. Về vấn đề khác: Đối tượng tên “Lu” trực tiếp bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi có kết quả xử lý sau.
  9. Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Hải Thành D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Trần Hải Thành D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 06/7/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1396/KL-KTHS ngày 11/7/2024.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng (đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong)

    (Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/10/2024).

  3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HĐXXThẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - TA tỉnh ĐN,
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐN,
  • - VKSND TPLK,
  • - CA TPLK,
  • - THA TPLK,
  • - Trại giam B5,
  • - Các bị cáo
  • - Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Vân Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 160/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trần hải thành D 2 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger