Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 160/2024/HS-PT

Ngày 19-4- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Thế Phương;

Ông Trần Phương Đông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 468/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Hữu L; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 192/2023/HS-ST ngày 28-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Hữu L, sinh năm 1993 tại tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn B, xã T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu H và bà Nguyễn Thị L1; bị cáo có vợ là Hoàng Thị H1, sinh năm 1995 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 03/3/2023, bị Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt số tiền 30.000.000đ về tội “Lừa dối khách hàng” theo khoản 2 Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/3/2023 đến ngày 17/3/2023 được huỷ bỏ biện pháp tạm giữ; bị cáo tại ngoại có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Nguyễn Công H2 là Giám đốc công ty TNHH M và Nguyễn Đắc H3 (sinh năm 1987, ngụ tại ấp T, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai) cùng nhau đấu thầu Hợp đồng mua bán sắt phế liệu với Công ty cổ phần Đ1 tại khu công nghiệp N, huyện N (gọi tắt là Công ty L4) với khối lượng khoảng 60 tấn sắt với giá 10.900 đồng/kg, đặt cọc trước số tiền 100.000.000 đồng để tham gia đấu thầu (nếu không trúng thầu sẽ được Công ty L4 trả lại). Sau khi đấu thầu thành công, H3 thấy mua với giá 10.900 đồng là cao, bán lại sẽ không có lời nên H3 không tiếp tục tham gia với H2 mà để H2 đứng ra ký kết hợp đồng mua bán số 0803/HĐMB-LMI/TPH với Công ty L4. Ngày 08/3/2023, Nguyễn Hữu H4 biết tin H2 vừa trúng thầu Hợp đồng mua bán sắt phế liệu với Công ty L4 nên liên hệ với H2 để mua lại hợp đồng đấu thầu mua phế liệu trên, Hợp đồng ý bán lại để hưởng chênh lệch 15.000.000 đồng. Sau đó H4 và H2 thấy việc kiểm tra hàng hóa, phương tiện, cân tải trọng không chặt chẽ nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của Công ty L4 bằng cách thỏa thuận với nhau thuê hai xe tải chở sắt phế liệu, có gia cố thêm két rỗng chứa nước trên thân xe. Sau đó bơm nước vào két để nâng trọng lượng xe để đến trạm cân cân xác xe, khi cân xe xong sẽ xả nước ra rồi chất phế liệu lên xe tiếp tục cân lại lần hai để tính khối lượng sắt phế liệu dư ra để chiếm đoạt số chênh lệch sắt phế liệu tương đương với khối lượng nước bơm vào két rỗng thì H2 và H4 sẽ chia đôi phần lợi nhuận thu được, H4 đồng ý. Để thực hiện hành vi chiếm đoạt trên, H4 gọi điện thoại cho Nguyễn Hữu L2 để thuê hai xe ô tô tải biển số 93H-018.72 và biển số 19H- 029.46 (đã được gia cố thêm két nước dưới thùng xe) với giá thuê 4.500.000 đồng xe và hướng dẫn L2 thủ đoạn chiếm đoạt hàng hóa của Công ty L4 như đã nêu trên, L2 đồng ý. L2 gọi điện thoại cho Hoàng Văn C và cũng hướng dẫn cách thức chiếm đoạt hàng hóa như trên và giao Chiến điều khiển xe tải biển số 19H- 029.46, bơm nước vào két chứa nước dưới thùng xe, L2 sẽ trả công 500.000 đồng, C đồng ý. Còn chiếc xe ô tô tải biển số 93H-018.72 thì tự L2 bơm đầy nước vào két rỗng dưới thùng xe rồi gọi cho em trai là Nguyễn Hữu L nói việc H4 thuê xe “bồn” để thực hiện hành vi chiếm đoạt hàng hóa của Công ty L4 như trên và nói với L ngày mai đi cùng với L2 chở hàng hóa, L đồng ý. H4 sau khi thuê được xe thì gọi điện thoại cho Nguyễn Hữu T là em ruột của H4 với mục đích đi cùng với Nguyễn Hữu L2 và Nguyễn Hữu L đến Công ty L4 với nhiệm vụ giám sát toàn bộ quá trình cân xe, vận chuyển phế liệu để chiếm đoạt chênh lệch khối lượng hàng hóa cho H4, sau khi xong việc H4 sẽ trả công từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng, T đồng ý.

Đến khoảng 10 giờ ngày 09/3/2023, H4 nói Nguyễn Hữu L2 điều khiển xe tải biển số 93H-018.72 chở L và T; Hoàng Văn C điều khiển xe tải biển số 19H - 029.46 và H4 thuê Nguyễn Văn T1 điều khiển xe tải biển số 51C-826.57 kéo theo Rơ móc biển số 60R-05622 (riêng xe tải của T1 không có bơm nước) từ tiệm phế liệu Ngọc P tại xã A, huyện L đến T cân miền Đ thuộc Khu công nghiệp N để cả ba xe cân khối lượng xe và lấy phiếu cân. Trọng lượng của xe 93H-018.72 trước khi bơm nước là 9.620 kg, sau khi bơm nước là 14.460 kg; trọng lượng xe 19H-029.46 trước khi bơm nước là 11.600 kg, sau khi bơm nước là 16.970 kg và trọng lượng xe 51C.826.57 là 33.690 kg. Sau khi cân xong thì cả ba xe đi vào Công ty L4 (trong lúc vắng người thì L2 và C dừng xe ô tô biển số 93H-018.72 và 19H - 029.46 để xả hết nước trong két sắt ra rồi vào Công ty L4 lấy hàng sắt phế liệu). Sau khi vào lấy hàng xong thì cả ba xe đến Trạm cân Miền Đ để cân lại khối lượng xe để tính phần sắt phế liệu đã mua của Công ty L4 thì tổng trọng lượng của xe 93H-018.72 và sắt phế liệu là 25.430 kg, số sắt phế liệu chênh lệch là 4.870 kg; tổng trọng lượng của xe 19H - 029.46 và sắt phế liệu là 27.290 kg, số sắt phế liệu chênh lệch là 5.190 kg; trọng lượng xe 51C.826.57 là 41.930 kg. Sau khi cân xong thì cả ba xe tiếp tục đến Trạm cân Hưng Hoàng tại xã P, huyện N để cân khối lượng xe lần 02 theo yêu cầu của đại diện Công ty L4 thì lúc này Công an huyện N đang tuần tra kiểm soát địa bàn phát hiện xe ô tô biển số 93H-018.72; xe ô tô biển số 19H - 029.46 và xe tải biển số 51C-826.57 kéo theo Rơ móc biển số 60R-05622 đang chở sắt phế liệu nên ra hiệu lệnh kiểm tra, do không có hóa đơn chứng từ về số sắt phế liệu đang chở nên đưa về Đồn công an khu công nghiệp làm việc thì H4, L2, L, C, T khai nhận hành vi đã gian dối trong việc cân hàng hóa (sắt phế liệu) với tổng số lượng sắt phế liệu chiếm đoạt là 10.060 kg của Công ty L4 nên Đồn Công an khu công nghiệp lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 chiếc xe ô tô biển số 93H-018.72, chủ sở hữu là bà Trương Thị Hồng L3, sinh năm 1992; ngụ tại ấp C, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
  • - 01 chiếc xe ô tô biển số 19H- 029.46, chủ sở hữu là Công ty TNHH T2, do ông Nguyễn Ngọc U đứng tên đại diện.
  • - 01 xe ô tô biển số 51C-826.57 kéo theo rơ móc biển số 60R-056.22 bị cáo Nguyễn Hữu H4.
  • - Số sắt phế liệu trọng lượng 39.740 kg;
  • - Số tiền 100.000.000 đồng mà Công ty L4 giao nộp.
  • - 01 điện thoại di động iphone màu vàng của Nguyễn Hữu L2.
  • - 01 điện thoại di động Vivo màu xanh của Hoàng Văn C.
  • - 01 điện thoại di động iphone màu rêu của Nguyễn Hữu L.
  • - 01 điện thoại di động Nokia màu xanh dương của Nguyễn Hữu L.
  • - 01 điện thoại di động iphone màu vàng của Nguyễn Hữu H4.
  • - 01 điện thoại di động iphone màu đen của Nguyễn Hữu H4.
  • - 01 điện thoại di động Oppo màu xanh của Nguyễn Hữu T;
  • - 01 điện thoại di động iphone màu vàng của Nguyễn Công H2.
  • - 01 điện thoại di động iphone màu tím của Nguyễn Công H2.

Tại Kết luận định giá tài sản số 56/BB.HĐĐG của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N ngày 15/3/2023 xác định 5.190 kg sắt có giá trị là 48.526.500 đồng

Tại Kết luận định giá tài sản số 57/BB.HĐĐG của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N ngày 15/3/2023 xác định 4.870 kg sắt phế liệu có giá trị là 45.534.500 đồng.

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 192/2023/HS-ST ngày 28-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đã quyết định:

Căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu H4, Nguyễn Công H2, Nguyễn Hữu L2, Nguyễn Hữu L, Nguyễn Hữu T và Hoàng Văn C phạm tội “Lừa dối khách hàng”.

- Về hình phạt:

+ Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 198, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H4 phải nộp phạt số tiền 120.000.000đ.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H2 phải nộp phạt số tiền 120.000.000đ.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L2 phải nộp phạt số tiền 100.000.000đ.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp phạt số tiền 100.000.000đ.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C phải nộp phạt số tiền 100.000.000đ.

+ Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 198, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/3/2023 ngày 17/3/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng cáo:

Ngày 05-9-2023, bị cáo Nguyễn Hữu L kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt tiền.

4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

- Về nhân thân của bị cáo: Ngày 03-3-2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Phú Mỹ xử phạt số tiền 30.000.000 đồng về tội “Lừa dối khách hàng”, ngày 09-3-2023, bị cáo phạm tội mới; do bản án của Tòa án huyện Phú Mỹ chưa có hiệu lực pháp luật nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo có 01 tiền án là không đúng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án về nhân thân, lý lịch của bị cáo.

- Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Lừa dối khách hàng” theo quy định tại khoản 2 Điều 198 là có căn cứ, đúng quy định.

- Về kháng cáo và hình phạt: Bị cáo L là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Lừa dối khách hàng” nhưng không lấy đó làm bài học lại tiếp tục phạm tội; mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp không nặng như kháng cáo đã nêu. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

2.1. Về nhân thân, lý lịch của bị cáo:

Bản án sơ thẩm xác định bị cáo có 01 tiền án về tội “Lừa dối khách hàng” là không đúng, do Bản án của Tòa án nhân dân huyện Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử trước đối với bị cáo chưa có hiệu lực pháp luật. Tòa án cấp phúc thẩm điều chỉnh cho phù hợp.

2.2. Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm nhận định, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm; Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa dối khách hàng” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

2.3. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52; tuy nhiên, Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử đối với bị cáo tính tới thời điểm phạm tội mới chưa có hiệu lực pháp luật. Do đó, việc xác định bị cáo phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 là không đúng, Tòa án cấp phúc thẩm sửa chữa cho phù hợp.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi con nhỏ là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • + Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới.

2.4. Về kháng cáo và hình phạt:

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng; mặc dù, bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm nhưng nhìn nhận liền trước đã bị kết án về cùng tội danh “Lừa dối khách hàng” nhưng không lấy đó làm bài học, thay đổi bản thân, lại tiếp tục phạm tội. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 01 năm tù ở mức khởi điểm của khung hình phạt bị cáo bị truy tố là xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

[3] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Hữu L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 192/2023/HS-ST ngày 28-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch về hình phạt đối với bị cáo.

1. Tội danh và hình phạt:

Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 198; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L 01 (một) năm tù về tội “Lừa dối khách hàng”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/3/2023 ngày 17/3/2023.

2. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Hữu L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo khác trong vụ án, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch (2);
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/HS-PT ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 160/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger