Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2023/HS-ST

Ngày: 18 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng và ông Phạm Tiến Lợi

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 18/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 183/2023/TLST-HS ngày 05/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2023/QĐXXST-HS ngày 06/12/2023, hình thức trực tuyến đối với bị cáo:

Vũ Anh T, sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông: Vũ Văn T1, con bà: Nguyễn Thị N; Chưa có vợ, con; D chỉ bản số 713 do Công an huyện C lập ngày 03/11/2023; Tiền sự: không

Tiền án: Tại Bản án số 38/2022/HSST ngày 14/07/2022, Toà án nhân dân huyện Thanh oai, TP Hà Nội xử phạt Vũ Anh T 09 tháng cải tạo không giam giữ được trừ 6 ngày tạm giữ = 18 ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 08 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã T nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. (Ngày 14/9/2022, Công an xã T nhận được hồ sơ thi hành án cải tạo không giam giữ đối với T).

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/10/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – Công an thành phố H.

* Bị hại: Anh Trịnh Viết K, sinh năm 1994. Trú tại: Thôn A, xã Q, C, Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án thể hiện Vũ Anh T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:

Sáng ngày 19/01/2023, T điều khiển xe mô tô BKS 29X7 - 026.80 (xe T mượn của anh Lê Văn M, là cháu họ của T) đi chơi lang thang trên địa bàn huyện C, Hà Nội, đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô trên trục đường liên xã, thuộc địa phận thôn A, xã Q, C, Hà Nội để về nhà thì T phát hiện thấy nhà ở của anh Trịnh Viết K không có ai ở nhà, cửa cổng, cửa nhà đang khóa. Lúc này, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, nên điều khiển xe mô tô đi vào khu đất trống phía sau nhà anh K. Sau đó, T dừng xe, lén lút trèo qua tường bao phía sau nhà anh K để vào khuôn viên nhà. Sau khi vào trong khuôn viên nhà anh K, T đi lên khu vực nhà ở, quan sát thấy không có ai ở nhà, cửa sổ, cửa ra vào đóng, T dùng thanh kim loại cạnh cửa sổ phía sau nhà anh K để cạy phá cửa sổ. Khi mở được cửa sổ, T phát hiện trên chiếc giường trong phòng có một chiếc túi màu đen, nên đã dùng chiếc gậy gỗ để cạnh cửa ra vào phía sau, đưa đầu gậy qua cửa sổ, dùng tay kéo, kều, móc chiếc túi ra ngoài. Sau khi lấy được tài sản, thấy trong túi có chiếc máy tính xách tay, T nhanh chóng ôm chiếc túi, trèo tường đi ra ngoài tẩu thoát. T điều khiển xe mô tô đi ra khỏi bãi đất trống, về hướng Tỉnh lộ 419, khi đi được khoảng 100m, T dừng xe, kiểm tra trong túi có chiếc máy tính xách tay và một bộ hồ sơ xin việc mang tên anh K. Lúc này, T đã nghĩ đến việc quay lại để vứt trả lại bộ hồ sơ xin việc, nên đã để chiếc máy tính tại đèo hàng giữa xe và điều khiển xe mô tô quay lại, khi đến cổng nhà anh K, T dừng xe và ném chiếc túi bên trong có bộ hồ sơ xin việc của anh K, vào trong sân nhà anh K. Sau đó, T điều khiển xe mô tô theo đường đê sông B để về nhà.

Ngày 20/01/2023, T mang chiếc máy tính đi bán, nhưng không bán được nên mang về nhà để tại phòng ngủ của T. Ngày 21/01/2023, khi Công an xã Q phối hợp với Công an xã T xác minh, triệu tập đối với Vũ Anh T, ông Vũ Văn T1 (bố đẻ T) gọi điện cho T hỏi trộm cắp tài sản như thế nào, thì T thừa nhận lấy trộm tài sản là chiếc máy tính xách tay tại nhà anh K, T nhờ ông T1 trả lại chiếc máy tính cho người bị mất. Sau đó, T bỏ đi khỏi gia đình và địa phương.

Ngày 21/01/2023, đại diện gia đình T đã mang chiếc máy tính đến Công an xã Q giao nộp chiếc máy tính trên để trả cho K.

* Vật chứng thu giữ:

  • - Chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu DELL 5448, màu sơn bạc, CPUi5, Gen5, Ram D, SSD 120G, góc trên bên trái bị méo.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG ngày 01/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: Chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu DELL 5448, màu sơn bạc, CPUi5, Gen5, Ram D, SSD 120G, đang lưu hành sử dụng có giá trị là 4.000.000 (Bốn triệu đồng).

* Xử lý vật chứng: Ngày 13/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng số 21 trả lại chiếc máy tính có đặc điểm nêu trên cho anh Trịnh Viết K.

* Về dân sự: Anh Trịnh Viết K không yêu cầu bị can Vũ Anh T bồi thường gì; không đề nghị thêm gì khác về dân sự.

Tại Bản Cáo trạng số 184/CT-VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Vũ Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Vũ Anh T đã khai nhận và thừa nhận toàn bộ thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng truy tố.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo T. Đề nghị tuyên bố bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 (tài sản đã thu hồi trả cho bị hại; bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo) Điều 51; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự; phạt bị cáo T từ 08 đến 10 tháng tù; tổng hợp với hình phạt 01 tháng 12 ngày tù (quy đổi từ hình phạt còn lại 04 tháng 07 ngày Cải tạo không giam giữ) của Bản án số 38/2022/HSST ngày 14/07/2022, Toà án nhân dân huyện Thanh Oai. Do bị cáo không có việc làm, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1] Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai bị hại, xác định hiện trường vụ án, truy tìm vật chứng vụ án, trưng cầu định giá tài sản, xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, bị hại. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại đều không khiếu nại về việc: Bị Điều tra viên, Kiểm sát viên mớm cung, ép cung, bức cung, nhục hình, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị hại – anh Trịnh Viết K: Xét thấy anh K đã có đơn xin xét xử vắng mặt; trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của anh K, việc vắng mặt của anh K không làm ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo và giải quyết bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Xét lời khai của bị cáo Vũ Anh T tại phiên tòa, thấy phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản xác định hiện trường vụ án, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ ngày 19/01/2023, Vũ Anh T đã có hành vi lén lút vào trong khu vực nhà ở của anh Trịnh Viết K tại thôn A, xã Q, huyện C, Thành phố Hà Nội, trộm cắp 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu DELL 5448, màu sơn bạc, CPUi5, Gen5, Ram D, SSD 120G trị giá 4.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của Vũ Anh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 184/CT-VKS-CM ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Vũ Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản, điều luật nói trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi trộm cắp của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội đã gây ra.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy:

Ngày 14/7/2022, T bị Toà án nhân dân huyện Thanh Oai xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 06 ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 08 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã T nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Ngày 14/9/2022, Công an xã T nhận được hồ sơ thi hành án cải tạo không giam giữ đối với T. Như vậy, tính đến ngày 19/01/2023 (ngày T thực hiện hành vi phạm tội) thì T mới chấp hành được 04 tháng 05 ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 04 tháng 07 ngày cải tạo không giam giữ, nên lần phạm tội này của T thuộc trường hợp “tái phạm”. T bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, nên cần phải cách ly với xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, dăn đe và phòng ngừa chung.

Căn cứ khoản điểm b khoản 1 Điều 55 và khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, buộc T phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại của Bản án số 38/2022/HSST ngày 14/07/2022 là 01 tháng 12 ngày tù (được quy đổi từ 04 tháng 07 ngày cải tạo không giam giữ).

Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã thu hồi trả lại cho bị hại, nên thuộc trường hợp “Phạm tội nhưng gây hậu quả không lớn”; “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do bị cáo không có thu nhập, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[2.3] Về trách nhiệm dân sự: Anh Trịnh Viết K đã nhận lại các tài sản bị mất và không có yêu cầu gì bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, phạt:

    Vũ Anh T: 09 (chín ) tháng tù, tổng hợp với hình phạt còn lại Bản án số 38/2022/HSST ngày 14/07/2022 của Toà án nhân dân huyện Thanh Oai là 01 tháng 12 ngày tù (được quy đổi từ 04 tháng 07 ngày cải tạo không giam giữ), buộc Vũ Anh T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 (mười) tháng 12 (mười hai) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2023.

  3. Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Vũ Anh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt vắng quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - CC THA dân sự huyện Chương Mỹ;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 160/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Anh T - Điều 173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger