TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 160/2024/HS-PT
Ngày: 17-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Đỗ Mạnh Hùng |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Hữu Hồng |
| Ông Nguyễn Công Hoàn |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự Thụ lý số: 147/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2024/HS-ST ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1996, tại: Ninh Thuận; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn M, xã M, huyện N, Tỉnh Ninh Thuận; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Lái xe; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông: Nguyễn Văn T1; con bà: Nguyễn Thị H; vợ: Mấu Ngọc T2, sinh năm: 1998; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú
Trong vụ án này còn có những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến của phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 7/2022, Nguyễn Ngọc T và chị Cao Thị Thu H1 có mối quan hệ tình cảm, sống chung với nhau tại phòng trọ địa chỉ A N L, Phường H, Thành phố Đ. Trong thời gian sống chung, T và chị H1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do T nghi ngờ chị H1 có tình cảm với người khác. Khoảng 21 giờ 30 ngày 17/7/2023, T ra ngoài ăn nhậu về thì thấy anh Hoàng Đức V đang điều khiển xe mô tô của chị H1 đi về phòng trọ. T nghi anh V là người yêu của chị H1, nên T chặn xe anh V lại hỏi “Mày quen Hồng lâu chưa?” thì V trả lời “Em chỉ đi mua đồ ăn cho chị H1 thôi”. Do ghen tuông nên T dùng tay tát mạnh vào mặt anh V thì anh V để xe lại, chạy bộ về hướng phòng trọ chị H1. Thấy vậy, T chạy theo, thấy V đang đứng trước cửa phòng của chị H1, T nhặt một viên gạch màu nâu đỏ, loại 4 lỗ, kích thước 9x8,5x7,5 cm, cầm ở tay phải rồi tiến đến vị trí anh V đang đứng. Thấy T cầm gạch tiến đến cách khoảng 6-7m, anh V tới trước phòng trọ lấy một tấm ván ép cầm sẵn trên tay. Thức tiếp tục tiến gần lại anh V, khi cách khoảng 3m thì anh V đưa tấm ván ra phía sau định đánh Thức thì T ném viên gạch trúng vùng trán của anh V. Lúc này, T bị trượt chân té xuống đất, thấy vậy anh V cầm tấm ván chạy tới đánh một cái trúng phía sau vùng đầu T. Sau đó, anh V ôm đầu chạy vào phòng trọ của chị H1, còn T đứng dậy bỏ đi ra ngoài khu nhà trọ hút thuốc. Khoảng năm phút sau, T nhặt một cây tre ở khu vực phía dưới khu nhà trọ với mục đích quay lại nhà trọ để đánh V. Khi tới trước cửa phòng trọ của chị H1, T thấy có các bạn chị H1 gồm Cruyang Ya K, Phan Vũ Quỳnh N, Võ Thị Mỹ Lệ D đang chăm sóc vết thương cho anh V. Thấy vậy, T hẹn anh V ra ngoài để nói chuyện nhưng anh V không nói gì. Thức bực tức ném cây tre trúng tay anh K thì mọi người đưa V vào nhà vệ sinh phòng trọ. T tiếp tục đến trước cửa nhà vệ sinh gọi anh V ra nói chuyện nhưng anh V không ra thì T dùng tay đấm vào khung cửa bên phải phòng vệ sinh làm khung cửa nứt bể. Khoảng 10 phút sau, Công an phường H2, TP . đến đưa T về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên (BL: 49-119).
Vật chứng thu giữ:
- 01 tấm ván màu trắng kích thước 69,5 x 29cm;
- 01 tấm ván màu nâu kích thước 47x28cm;
- 01 viên gạch màu nâu đỏ, loại 4 lỗ, kích thước 9x8,5 x 7,5cm;
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vario màu đen biển số 85F1-363.71 (BL: 49-56).
Bị hại: Anh Hoàng Đức V, sinh năm 2001, HKTT: Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị 01 vết thương trán thái dương phải kích thước 04cm, vỡ sọ trán. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 496/KLTTCT-PYLĐ ngày 25/9/2023 của Trung tâm P xác định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Hoàng Đức V tại thời điểm giám định là 20%, tổn thương do vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên. Nguyễn Ngọc T đã bồi thường số tiền 115.000.000 đồng và bị hại có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T (BL:79-99).
Tại bản cáo trạng số 175/CT-VKSÐL-LĐ ngày 24/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2024/HS-ST ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, giam thi hành án.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/7/2024, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã xét xử bị cáo, không kêu oan, không khiếu nại hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng và giữ nguyên kháng cáo, không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm
[3] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Ngọc T và chị Cao Thị Thu H1 có mối quan hệ tình cảm, sống chung với nhau tại phòng trọ địa chỉ A N L, Phường H, Thành phố Đ. Do nghi ngờ, ghen tuông chị H1 có tình cảm với anh Hoàng Đức V, nên vào khoảng 21 giờ 30 ngày 17/7/2023, khi T thấy anh V điều khiển xe mô tô của chị H1 đi về phòng trọ thì T chặn xe anh V lại hỏi “Mày quen Hồng lâu chưa?”, V trả lời “Em chỉ đi mua đồ ăn cho chị H1 thôi”, T dùng tay tát mạnh vào mặt anh V thì anh V để xe lại, chạy bộ về hướng phòng trọ chị H1. Thức chạy theo nhặt một viên gạch màu nâu đỏ, loại 4 lỗ, kích thước 9x8,5x7,5 cm, cầm ở tay phải rồi tiến đến vị trí anh V đang đứng. Thấy T cầm gạch tiến đến cách khoảng 6-7m, nên anh V tới trước phòng trọ lấy một tấm ván ép cầm sẵn trên tay. T tiếp tục tiến gần chỗ anh V, khi cách khoảng 3m thì anh V đưa tấm ván ra phía sau định đánh Thức thì T ném viên gạch trúng vùng trán của anh V. Lúc này, T bị trượt chân té xuống đất, thấy vậy anh V cầm tấm ván chạy tới đánh một cái trúng phía sau vùng đầu T. Sau đó, anh V ôm đầu chạy vào phòng trọ của chị H1, còn T đứng dậy bỏ đi ra ngoài khu nhà trọ hút thuốc. Khoảng năm phút sau, T nhặt một cây tre ở khu vực phía dưới khu nhà trọ với mục đích quay lại nhà trọ để đánh V. Khi tới trước cửa phòng trọ của chị H1, T thấy có các bạn của chị H1 gồm Cruyang Ya K, Phan Vũ Quỳnh N, Võ Thị Mỹ Lệ D đang chăm sóc vết thương cho anh V. Thấy vậy, T hẹn anh V ra ngoài để nói chuyện nhưng anh V không nói gì. Thức bực tức ném cây tre trúng tay anh K thì mọi người đưa V vào nhà vệ sinh phòng trọ. T tiếp tục đến trước cửa nhà vệ sinh gọi anh V ra nói chuyện nhưng anh V không ra thì T dùng tay đấm vào khung cửa bên phải phòng vệ sinh làm khung cửa nứt bể. Sau đó, Công an H2, Thành phố Đ đến đưa T về trụ sở làm việc. Nguyễn Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi do thức đã thực hiện. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 496/KLTTCT-PYLĐ ngày 25/9/2023 của Trung tâm P xác định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Hoàng Đức V tại thời điểm giám định là 20%, tổn thương do vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo, thì thấy rằng; Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội đã xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo với mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo, bị cáo xuất trình quyết định xuất ngũ tuy nhiên, mức án mà cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như quan điểm của Viện kiểm sát là phù hợp.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Mạnh Hùng |
Bản án số 160/2024/HS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 160/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Thức - Cố ý gây thương tích
