|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 160/2024/HS-ST Ngày: 17/4/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Văn Lợi.
- Ông Nguyễn Cửu Long.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 99/2024/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Văn V, sinh năm 1983 tại Bạc Liêu; Nơi thường trú: Áp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; Nơi ở hiện tại: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Đắc N; Con bà Bao Kim T; Vợ: Mã Cẩm D; Con: Có 02 con Trần Huỳnh A, sinh năm 2008 và Trần Vũ Việt H, sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/11/2023. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Bị hại:
- Anh Tạ Trường H1, sinh năm 2004; Địa chỉ: S chung cư V, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Chị Phạm Thị Thanh T1, sinh năm 2000; Địa chỉ:I V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Anh Mai Nhân K, sinh năm 2004; Địa chỉ: 7, Đường D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1977; Địa chỉ: 8 Đường D, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Anh Trương Khai T3, sinh năm 1998; Địa chỉ: B N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1996; Địa chỉ: 2 L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Kiều Quang L, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện B, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Nguyễn Duy T4, sinh năm 1996; Địa chỉ: I H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Trần Văn V nảy sinh ý định lén lút lấy trộm tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 02 giờ ngày 16/10/2023, Trần Văn V đi bộ một mình đến trường đại học F tại Thành phố Hồ Chí Minh tại địa chỉ: Lô E, đường D, Khu Công nghệ cao, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vụ đi tới phòng 801 lấy trộm tài sản gồm: 01 (một) máy ảnh Sony A6300, kèm ống lens 24-70, đèn flash Godox của anh Mai Nhân K; 01 (một) máy ảnh Canon 700D, kèm ống kính lens (không rõ nhãn hiệu) của anh Tạ Trường H1; 01 (một) laptop, 01 (một) máy ảnh Canon 77D của chị Phạm Thị Thanh T1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia của anh Trương Khai T3; 01 (một) laptop, 01 (một) điện thoại di động Nokia, 01 (một) cục sạc dự phòng của chị Nguyễn Thị Thanh T2 bỏ tất cả vào ba lô mang theo rồi đi về phòng trọ tại địa chỉ B N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, V lên mạng Internet tìm người mua số tài sản vừa lấy trộm được và tìm thấy trang Web thuộc cửa hàng L1 do anh Kiều Quang L làm Giám đốc công ty TNHH L2 có trụ sở chính tại F T, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội và có chi nhánh tại địa chỉ: I H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Vụ mang số tài sản lấy trộm được đến địa chỉ trên và gặp Nguyễn Duy T4 là quản lý, vì không biết kiểm tra tình trạng máy nên T4 có liên hệ cho Nguyễn Mạnh C là quản lý cửa hàng L1 (Chi nhánh: 284/7/2 L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh). T4 hẹn C đến quân cà phê T (địa chỉ: Số E Đường số A, Khu phố D, phường L, thành phố T) ở gần cửa hàng 94 H, phường L, thành phố T để thỏa thuận giao dịch mua bán với Vụ. Sau đó, T4, C và V đồng ý thỏa thuận giao dịch mua bán 01 (một) máy ảnh hiệu Sony A6300, kèm ống kính 28-70mm; 01 (một) máy ảnh Canon 700D, kèm ống kính (không nhớ rõ nhãn hiệu); 01 (một) máy ảnh Canon 77D, kèm ống kính (không nhớ rõ nhãn hiệu); 02 (hai) máy tính xách tay (laptop) gồm: 01 (một) máy tính xách tay (laptop) MSI; 01 (một) máy tính xách tay (L3), không nhớ rõ nhãn hiệu với tổng tiền thu mua các tài sản trên là 9.000.000 đồng, giao dịch trực tiếp bằng tiền mặt. Sau khi C, Trung thu mua số tài sản trên, C đóng hàng và đến đơn vị vận chuyển 365day's Express (địa chi: A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) để gửi hàng đến Cửa hàng L1 (Chi nhánh: F T, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội) cho Kiều Quang L.
Qua hình ảnh camera tại Trường Đại học F tại Thành phố Hồ Chí Minh ghi lại xác định Trần Văn V là nhân viên cũ của Công ty B. Ngày 30/10/2023, Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh mời Vụ về trụ sở làm việc và Vụ đã thừa nhận hành vị trộm cắp tài sản nêu trên.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Trần Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên và đã giao nộp cho Cơ quan Công an 01 (một) điện thoại Nokia C20; 01 (một) điện thoại Sony Xperia; 01 (một) cục sạc dự phòng nhãn hiệu Anker, màu đen.
Đối với Nguyễn Duy T4 và Nguyễn Mạnh C là nhân nhân viên công ty khai nhận đã thu mua tài sản gồm: 03 (ba) bộ máy ảnh, 02 (hai) máy tính xách tay (laptop) với giá 9.000.000 đồng từ Trần Văn V, khi hỏi về nguồn gốc những tài sản trên thì V cho biết là được người quen cho và không biết tài sản trên do trộm cắp mà có. Sau đó, T5 và C gửi tài sản mua được về trụ sở chính cho anh Kiều Quang L. Ngày 07/11/2023 anh Kiều Quang L đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giao nộp 03 (ba) bộ máy ảnh, 02 (hai) máy tính xách tay (laptop) đã thu mua.
Kết luận định giá tài sản số 09-KV2/KLÐG-HĐĐGTS ngày 25/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận:
- 01 (một) máy ảnh Canon EOS 700D, thông số (Số S: 408035000454; màu đen; Loại máy ảnh: Compact SLR; Kích thước cảm biến: APS-C (22.3 x 14.9 mm); Megapixel: 18 Megapixel; Độ lớn màn hình LCD: 3.0 inch); kèm lens Canon Kit 18-55mm (Lens có khẩu độ: f3.5-5.6, tiêu cự 18-55mm), màu đen, đã qua sử dụng (thu giữ của Kiều Quang L) trị giá 7.000.000 đồng.
- 01 (một) máy ảnh Canon EOS 77D, thông số (Số S: 138031003081; màu đen; Loại máy ảnh: DSLR; Kích thước cảm biến: 22.3×14.9mm; Megapixel: 24.2; Độ lớn màn hình LCD: 3.0 inch); kèm lens Sigma 18-55mm (Lens có khẩu độ: f3.5-5.6, tiêu cự 18-55mm), màu đen, kèm cục S, M: LC-E17E màu đen, đã qua sử dụng trị giá 10.330.000 đồng.
- 01 (một) máy ảnh Sony A6300, thông số (Số S: 4493093; màu đen; Kiểu máy: Mirrorless; Kích thước cảm biến: APS-C (23.5 x 15.6 mm); Megapixel: 25 5.6/28-70 (L; Độ lớn màn hình: 3.0 inch), kém lens Sony FE 3/ có khẩu độ: f3.5-5.6, tiêu cự 28-70mm), màu đen, đã qua sử dụng dụng trị giá 10.500.000 đồng.
- 01 (một) máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu MSI (K1911N0072203) Core i7, thông số (màu đen; CPU: 179750H2.6GHz; RAM: 8 GBDDR4 (2 khe) 2666 MHz; Ổ cứng: 512 GB SSD NVMe PCIeHỗ trợ khe cắm HDD SATA; Màn hình: 15.6" F1 (1920 x 1080); Card màn hình: Card rời NVIDIA GeForce GTX 1050Ti, 4 GB); kèm cục sạc nhãn hiệu Chicony 120W màu đen, đã qua sử dụng trị giá 11.963.000 đồng.
- 01 (một) máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu ASUS X455L Core i3, thông số (nâu đen; Ram: 4GB; Bộ xử lý: I, Core i3, 5005U, 2.0 Ghz, 3M Cache; Màn hình: 14 inch, 1366 x 768 pixels, Glare + LED; Đồ họa: Intel HD Graphics 5500, S, C1 đồ họa tích hợp: Pín: 2 Cells; Hệ điều hành: Free Dos) kèm cục sạc nhãn hiệu ASUS 45W màu đen, đã qua sử dụng trị giá 3.000.000 đồng.
- 01 (một) Micro không dây Rode Wireless ME, thông số (Imei: IS0054151; màu đen; SPL tối đa: 100 dB SPL; Kích thước: 4.4 x 4.5 x 1.8 cm; Công nghệ kết nối không dây: Digital 2.4 GHz), đã qua sử dụng trị giá 2.589.000 đồng.
- 01 (một) Flash Godox V860II Sony, thông số (Imei: 23A000055882; màu đen; Thương hiệu: Godox; Model: V860II; GN 60 (ISO 100); Pin lithium 11,1 V, 2000mah) đã qua sử dụng trị giá 2.467.000 đồng.
- 01 (một) cục sạc dự phòng nhãn hiệu Energiner, thông số (Màu đen; Model: UE20009BK; Dung lượng: 20.000mah; Pin: Lithium P) đã qua sử dụng trị giá 206.700 đồng
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia, màu đen, kiểu máy SO-01J, đã qua sử dụng trị giá 3.263.300 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C20, màu đen, kiểu máy: TA-1352, Imei: 350266789381392, đã qua sử dụng trị giá 830.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là 52.149.000 (năm mươi hai triệu một trăm bốn mươi chín nghìn) đồng.
* Vật chứng vụ án:
- 01 (một) máy ảnh Canon EOS 700D, thông số (Số S: 408035000454; màu đen; Loại máy ảnh: Compact SLR; Kích thước cảm biến: APS-C (22.3 x 14.9 mm); Megapixel: 18 Megapixel; Độ lớn màn hình LCD: 3.0 inch); kèm lens Canon Kit 18-55mm (Lens có khẩu độ: f3.5-5.6, tiêu cự 18-55mm), màu đen, đã qua sử dụng. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho anh Tạ Trường H1 là chủ sở hữu tài sản.
- 01 (một) máy ảnh Canon EOS-77D, thông số (Số S: 138031003081; màu đen; Loại máy ảnh: DSLR; Kích thước cảm biến: 22.3x14.9mm M: 24.2; Độ lớn màn hình LCD: 3.0 inch); kèm lens Sigma 18-55mm (Lens có khẩu độ: f3.5-5.6, tiêu cự 18-55mm), màu đen; kèm cục S, M: LC-E17E màu đen, đã qua sử dụng. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho chị Phạm Thị Thanh T1 là chủ sở hữu tài sản.
- 01 (một) máy ảnh Sony A6300, thông số (Số S: 4493093; màu đen; Kiểu máy: Mirrorless; Kích thước cảm biến: APS-C (23.5 x 15.6 mm); Megapixel: 25 Megapixel; Độ lớn màn hình: 3.0 inch), kèm lens Sony FE 3.5- 5.6/28-70 (Lens có khẩu độ: f3.5-5.6, tiêu cự 28-70mm), màu đen, đã qua sử dụng. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho anh Mai Nhân K là chủ sở hữu tài sản.
- 01 (một) máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu MSI (K1911N0072203) Core i7, thông số (màu đen; CPU: i79750H2.6GHz; RAM: 8 GBDDR4 (2 khe) 2666 MHz; Ổ cứng: 512 GB SSD NVMe PCIeHỗ trợ khe cắm HDD SATA; Màn hình: 15.6"F1 (1920 x 1080); Card màn hình: Card rời NVIDIA GeForce GTX 1050Ti, 4 GB); kèm cục sạc nhãn hiệu Chicony 120W màu đen, đã qua sử dụng. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho chị Phạm Thị Thanh T1 là chủ sở hữu tài sản.
- 01 (một) máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu ASUS X455L Core i3, thông số (nàu đen; Ram: 4GB; Bộ xử lý: I, Core i3, 5005U, 2.0 Ghz, 3M Cache; Màn hình: 14 inch, 1366 x 768 pixels, Glare + LED; Đồ họa: Intel HD Graphics 5500, S, C1 đồ họa tích hợp: Pin: 2 Cells; Hệ điều hành: Free Dos) kèm cục sạc nhãn hiệu ASUS 45W màu đen, đã qua sử dụng. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho chị Nguyễn Thị Thanh T2 là chủ sở hữu tài sản.
- 01 (một) Micro không dây Rode Wireless ME, thông số (Imei IS0054151; màu đen; SPL tối đa 100 dB SPL; Kích thước 4.4 x 4.5 x 1.8 cm; Công nghệ kết nối không dây Digital 2.4 GHz), đã qua sử dụng, chưa thu hồi được.
- 01 (một) Flash Godox V860II Sony, thông số (Imei 23A000055882; màu đen; Thương hiệu Godox; Model: V860II; GN 60 (ISO 100); Pin lithium 11,1 V, 2000mah) đã qua sử dụng, chưa thu hồi được.
- 01 (một) cục sạc dự phòng nhãn hiệu Energiner, thông số (Màu đen; Model UE20009BK; Dung lượng 20.000 mah; Pin: Lithium P) đã qua sử dụng, chưa thu hồi được.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia, màu đen, kiểu máy SO-01J, đã qua sử dụng. Ngày 30/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho anh Trương Khai T3 là chủ sở hữu tài sản.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C20, màu đen. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho chị Nguyễn Thị Thanh T2 là chủ sở hữu tài sản.
Ngày 30/10/2023, Trần Văn V giao nộp 01 (một) cục sạc pin dự phòng hiệu Anker màu đen đã qua sử dụng (thu giữ của Trần Văn V). Quá trình điều tra xác định không phải là vật chứng vụ án và thuộc quyền sở hữu của Trần Văn V. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T lập biên bản trả lại cho Trần Văn V.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Tạ Trường H1, Mai Nhân K, Trương Khai T3, chị Phạm Thị Thanh T1, Nguyễn Thị Thanh T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Anh Kiều Quang L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không yêu cầu bồi thường gì.
Tại bản Cáo trạng số: 111/CT-VKSTPTĐ ngày 22/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Trần Văn V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn V về tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn V từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù.
- Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.
- Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo Trần Văn V phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo Trần Văn V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên và mong hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Trần Văn V nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
[1]. Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn V phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:
Khoảng 02 giờ ngày 16/10/2023, tại phòng số 801 trường đại học F tại Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ: Lô E, đường D, Khu Công nghệ cao, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Văn V có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) máy ảnh Sony A6300, kèm ống lens 24-70, đèn flash Godox của anh Mai Nhân K; 01 (một) máy ảnh Canon 700D, kèm ống kính lens (không rõ nhãn hiệu) của anh Tạ Trường H1; 01 (một) laptop, 01 (một) máy ảnh Canon 77D của chị Phạm Thị Thanh T1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia của anh Trương Khai T3; 01 (một) laptop, 01 (một) điện thoại di động Nokia, 01 (một) cục sạc dự phòng của chị Nguyễn Thị Thanh T2. Tổng giá trị tài sản bị cáo V chiếm đoạt là 52.149.000 (năm mươi hai triệu một trăm bốn mươi chín nghìn) đồng.
Hành vi của Trần Văn V đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trần Văn V về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với Nguyễn Mạnh C, Kiều Quang L, Nguyễn Duy T4 nhận mua tài sản của Vụ bán lại, do không biết đây là tài sản do Trần Văn V phạm tội mà có nên không đủ căn cứ để xử lý hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[2]. Về tình tiết định khung hình phạt
Bị cáo Trần Văn V có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, tổng giá trị tài sản bị cáo V chiếm đoạt là 52.149.000 (năm mươi hai triệu một trăm bốn mươi chín nghìn) đồng. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn V thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Trần Văn V thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
[5]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các cá nhân, gây mất trật tự trị an, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Việc áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt do đó khi lượng hình cần đưa ra mức án phù hợp cho bị cáo, vừa đảm bảo tính nghiêm minh, vừa thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại Anh Tạ Trường H1, Mai Nhân K, Trương Khai T3 và chị Phạm Thị Thanh T1, Nguyễn Thị Thanh T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Hội đồng xét xử ghi nhận.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Kiều Quang L không yêu cầu bồi thường gì. Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7]. Về vật chứng vụ án:
- 01 (một) máy ảnh Canon EOS 700D, thông số (Số S: 408035000454; màu đen; Loại máy ảnh: Compact SLR; Kích thước cảm biến: APS-C (22.3 x 14.9 mm); Megapixel: 18 Megapixel; Độ lớn màn hình LCD: 3.0 inch); kèm lens Canon Kit 18-55mm (Lens có khẩu độ: f3.5-5.6, tiêu cự 18-55mm), màu đen, đã qua sử dụng. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho anh Tạ Trường H1 là chủ sở hữu tài sản. Hội đồng xét xử ghi nhận.
- 01 (một) máy ảnh Canon EOS-77D, thông số (Số S: 138031003081; màu đen; Loại máy ảnh: DSLR; Kích thước cảm biến: 22.3x14.9mm M: 24.2; Độ lớn màn hình LCD: 3.0 inch); kèm lens Sigma 18-55mm (Lens có khẩu độ: f3.5-5.6, tiêu cự 18-55mm), màu đen; kèm cục S, M: LC-E17E màu đen, đã qua sử dụng. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho chị Phạm Thị Thanh T1 là chủ sở hữu tài sản. Hội đồng xét xử ghi nhận.
- 01 (một) máy ảnh Sony A6300, thông số (Số S: 4493093; màu đen; Kiểu máy: Mirrorless; Kích thước cảm biến: APS-C (23.5 x 15.6 mm); Megapixel: 25 Megapixel; Độ lớn màn hình: 3.0 inch), kèm lens Sony FE 3.5- 5.6/28-70 (Lens có khẩu độ: f3.5-5.6, tiêu cự 28-70mm), màu đen, đã qua sử dụng. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho anh Mai Nhân K là chủ sở hữu tài sản. Hội đồng xét xử ghi nhận.
- 01 (một) máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu MSI (K1911N0072203) Core i7, thông số (màu đen; CPU: i79750H2.6GHz; RAM: 8 GBDDR4 (2 khe) 2666 MHz; Ổ cứng: 512 GB SSD NVMe PCIeHỗ trợ khe cắm HDD SATA; Màn hình: 15.6"F1 (1920 x 1080); Card màn hình: Card rời NVIDIA GeForce GTX 1050Ti, 4 GB); kèm cục sạc nhãn hiệu Chicony 120W màu đen, đã qua sử dụng. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho chị Phạm Thị Thanh T1 là chủ sở hữu tài sản. Hội đồng xét xử ghi nhận.
- 01 (một) máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu ASUS X455L Core i3, thông số (nàu đen; Ram: 4GB; Bộ xử lý: I, Core i3, 5005U, 2.0 Ghz, 3M Cache; Màn hình: 14 inch, 1366 x 768 pixels, Glare + LED; Đồ họa: Intel HD Graphics 5500, S, C1 đồ họa tích hợp: Pin: 2 Cells; Hệ điều hành: Free Dos) kèm cục sạc nhãn hiệu ASUS 45W màu đen, đã qua sử dụng. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho chị Nguyễn Thị Thanh T2 là chủ sở hữu tài sản. Hội đồng xét xử ghi nhận.
- 01 (một) Micro không dây Rode Wireless ME, thông số (Imei IS0054151; màu đen; SPL tối đa 100 dB SPL; Kích thước 4.4 x 4.5 x 1.8 cm; Công nghệ kết nối không dây Digital 2.4 GHz); 01 (một) Flash Godox V860II Sony, thông số (Imei 23A000055882; màu đen; Thương hiệu Godox; Model: V860II; GN 60 (ISO 100); Pin lithium 11,1 V, 2000mah); 01 (một) cục sạc dự phòng nhãn hiệu Energiner, thông số (Màu đen; Model UE20009BK; Dung lượng 20.000 mah; Pin: Lithium P) đã qua sử dụng, chưa thu hồi được. Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia, màu đen, kiểu máy SO-01J, đã qua sử dụng. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho anh Trương Khai T3 là chủ sở hữu tài sản. Hội đồng xét xử ghi nhận.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C20, màu đen. Ngày 30/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho chị Nguyễn Thị Thanh T2 là chủ sở hữu tài sản. Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Ngày 30/10/2023, Trần Văn V giao nộp 01 (một) cục sạc pin dự phòng hiệu Anker màu đen đã qua sử dụng (thu giữ của Trần Văn V). Quá trình điêu tra xác định không phải là vật chứng vụ án và thuộc quyền sở hữu của Trần Văn V. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T lập biên bản trả lại cho Trần Văn V. Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Văn V 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2023.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thu |
Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 160/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn V - Trộm cắp tài sản
