|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 160/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15-7-2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hòa, bà Diệp Thị Thu Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. SĐT: 0333.087.xxx
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1992 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. SĐT: 0327.827.xxx
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Chị và anh M tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng lâu dần phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên bất hòa nhưng không có biện pháp hàn gắn hiệu quả nên mâu thuẫn càng lúc càng trầm trọng, đến năm 2023 thì quyết định sống ly thân. Nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống nên chị T yêu cầu ly hôn với anh M.
Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Thị Thúy H, sinh ngày 08/11/2020 và Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 20/6/2015. Khi ly hôn, yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn M trình bày: Anh và chị T tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ. Trong thời gian sống chung, mặc dù có bất đồng quan điểm dẫn đến cãi vả nhưng mâu thuẫn không lớn. Anh vẫn còn thương chị T nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Thị Thúy H, sinh ngày 08/11/2020 và Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 20/6/2015. Từ khi chị T bỏ đi đến nay các con đều sống chung với anh và do anh chăm sóc. Nếu ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Chị T giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh M; đồng ý giao con chung cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu.
Anh M thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chưa có biện pháp gì hàn gắn, nhưng anh không muốn ly hôn vì còn thương vợ, nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì đồng ý nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn trình bày quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cho chị T ly hôn với anh M; giao con chung cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng; đương sự không yêu cầu về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung nên không xem xét. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn M và yêu cầu giải quyết về con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét việc tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh M xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Theo chị T trình bày nguyên nhân mâu thuẫn tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhưng không có biện pháp khắc phục nên lâu dần không còn tình cảm nên chị yêu cầu ly hôn, còn anh M trình bày mặc dù vợ chồng có bất đồng quan điểm nhưng không lớn và anh vẫn còn thương vợ con và mong muốn hàn gắn.
[2.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở các phiên hòa giải để hai bên có cơ hội hàn gắn nhưng chị T cương quyết ly hôn, anh M cũng không đưa ra được giải pháp hiệu quả nào để hàn gắn. Hơn nữa, tại Biên bản xác minh ngày 17/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn được Trưởng ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang cho biết trong thời gian chung sống thì vợ chồng anh M và chị T có xảy ra mâu thuẫn, nhưng không rõ mâu thuẫn gì nên chị T yêu cầu ly hôn, do đó có cơ sở cho thấy mâu của cả hai đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên được nên yêu cầu ly hôn của chị T là có cơ sở. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn, cho chị T ly hôn anh M.
[3] Về con chung: Chị T và anh M có hai con chung tên Nguyễn Thị Thúy H, sinh ngày 08/11/2020 và Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 20/6/2015. Chị T và anh M thống nhất giao các con cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành ghi nhận ý kiến của em Nguyễn Thị Thúy K thể hiện nguyện vọng của cháu muốn tiếp tục sống với cha nếu cha mẹ ly hôn. Do đó, có đủ căn cứ giao các cháu: Nguyễn Thị Thúy H, sinh ngày 08/11/2020 và Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 20/6/2015 cho anh Nguyễn Văn M tiếp tục nuôi dưỡng. Do anh M không yêu cầu chị T cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, 14, 15, 51, 53, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T. Cho chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Nguyễn Văn M.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thúy H, sinh ngày 08/11/2020 và Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 20/6/2015 cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị T không cấp dưỡng nuôi con.
Chị Nguyễn Thị T và các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của anh Nguyễn Văn M. Anh Nguyễn Văn M và các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở chị Nguyễn Thị T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013721 ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, chị Nguyễn Thị T không phải nộp thêm. Anh Nguyễn Văn M không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Mỹ Linh |
Bản án số 160/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 160/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị T Ly Hôn Anh Nguyễn Văn m
