|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 160/2024/HS-ST Ngày: 12 - 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoa, bà Nguyễn Thị Quế Anh, ông Võ Duy Bảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên chính, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 126/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Lê Thị H; Giới tính: nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 01/7/1973 tại: huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 1/12; con ông: Lê Văn H1 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị L; sinh năm: 1957; Anh chị em ruột: Có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Chồng: Nguyễn Văn L1; Sinh năm: 1972; Con có 03 người, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 27/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (bản án số 123/2016/HSST). Chấp hành xong án phạt tù vào ngày 23/8/2017.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2024 đến nay. Có mặt.
-
Họ và tên: Vy Thị T; Giới tính: nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 13/01/1986 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 9/12; con ông: Vi Văn T1; Sinh năm: 1963 và con bà: Vi Thị T2; Sinh năm: 1963; Anh chị em ruột: Có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; chồng: Lương Anh P; Sinh năm: 1981; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2024 đến nay. Có mặt.
-
Họ và tên: Đoàn Thị T3; Giới tính: nữ; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 01/10/1990 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi ở: khối T, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 7/12; con ông: Đoàn Văn T4; Sinh năm: 1962; và con bà: Nguyễn Thị H2; Sinh năm: 1966; anh chị em ruột: Có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; chồng: Nguyễn Văn V; Sinh năm: 1980; con có 06 người, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2022. Tiền sự, nhân thân: không. Tiền án: ngày 29/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử 01 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (bản án số 76/2016/HSST), đang hoãn chấp hành án.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2024 đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo:
- Người bào chữa cho bị cáo Vy Thị T: ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1988. Văn phòng Luật sư Tâm V2 - Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị H, Đoàn Thị T3: ông Mai Sỹ L2, sinh năm 1975. Văn phòng Luật sư Quang L3 và Cộng sự - Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị H: bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1961. Văn phòng Luật sư Quang L3 và Cộng sự - Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 23/02/2024 tại xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp với lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang Vy Thị T (sinh năm 1986, trú tại bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An) về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ 30 gói ni lông bên trong chứa các viên nén màu hồng có tổng khối lượng 639,14 gam (nghi ma túy), 01 điện thoại di động, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ biển kiểm soát 37N1-4302.
Mở rộng điều tra ngày 24/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đoàn Thị T3 (sinh năm 1990; Nơi ở: khối T, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An) về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ 01 điện thoại di động và Lê Thị H (sinh năm 1973; Nơi thường trú: xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) về hành vi mua bán trái phép chất ma túy; thu giữ 02 điện thoại di động.
Quá trình điều tra hành vi phạm tội của Vy Thị T, Lê Thị H và Đoàn Thị T3 thể hiện như sau:
Ngày 13/02/2024 (Mùng 4 Tết nguyên đán 2024), Đoàn Thị T3 về quê ở xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì Lê Thị H (chị dâu của T3) đến nhà chơi. Tại đây, H nhờ T3 tìm người để mua 30 gói ma túy hồng phiến, T3 đồng ý và gọi điện cho Vy Thị T nhưng không liên lạc được. T3 nói H khi nào T3 lên huyện Q sẽ xin lại số điện thoại của T cho H mua ma túy.
Sau khi ăn Tết xong, T3 quay về thị trấn K, huyện Q. Ngày 20/02/2024, H lên thị trấn K, huyện Q gặp T3 hỏi T3 xin được số T cho H chưa thì T trả lời chưa và nói với H sẽ gửi số điện thoại H cho T liên lạc. Tối ngày 20/02/2024, thông qua mạng xã hội Facebook, T3 liên lạc qua M vào tài khoản “Thủy Thanh” của Vy Thị T hỏi T có biết ai bán ma túy không thì T đồng ý sẽ tìm cho và nói khi nào có sẽ báo lại. Sau đó, T3 đã gửi số điện thoại 0337.437.xxx của H cho T để liên lạc mua bán ma túy với nhau. Sau đó, T điện thoại cho H xác minh việc H muốn mua 30 gói ma túy hồng phiến thì H nói đúng, nên T đã gọi điện cho một người đàn ông dân tộc Mông sử dụng số điện thoại 0354.666.xxx (không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể mà Thanh quen khi mua măng ở chợ phiên xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An) đặt mua 30 gói ma túy hồng phiến. Người này nói giá 30 gói ma túy hồng phiến là 50.000.000 đồng và dặn phải trả đủ tiền mới được lấy ma túy.
Khoảng 19 giờ, ngày 21/02/2024, Lê Thị H đến phòng trọ Mai Thị H3 (là cháu của H, sinh năm 1996; Nơi thường trú: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) ở thị trấn K, huyện Q chơi. Tại đây, khiVy Thị T5 gọi điện cho H để hỏi việc mua bán ma tuý thì lúc này Đoàn Thị T3 đến nhà H3 chơi (H3 cũng là em dâu của T3) nên H đưa điện thoại cho T3 nói chuyện với T5. T5 báo cho T3 có ma túy và giá 30 gói ma túy hồng phiến là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) nhưng phải đưa tiền trước để T5 đi lấy. T3 nói T5 cứ yên tâm, có gì cứ nói chuyện với H rồi đưa điện thoại lại cho H bàn bạc với T5. Sau đó, T5 và H thống nhất, ngày mai H sẽ đưa trước cho T5 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), số tiền còn thiếu khi nào nhận được ma túy sẽ trả sau. Khi H, T3 nói chuyện điện thoại thì Mai Thị H3 không có mặt ở phòng trọ.
Khoảng 14 giờ 53 phút, ngày 22/02/2024, T5 gọi điện hẹn H giao tiền mua ma túy ở khu vực chợ thị trấn K, huyện Q. Tại đây, H đưa T5 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Đến 15 giờ 18 phút, ngày 22/02/2024, T5 gọi điện cho người đàn ông dân tộc Mông sử dụng số điện thoại 0354.666.xxx (như đã nêu trên) đặt mua 30 gói ma túy hồng phiến với giá 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Khoảng 08 giờ ngày 23/02/2024, T5 điều khiển xe mô tô biển số 37N1-4302 đi lên xã T, huyện Q rồi liên lạc với người đàn ông dân tộc Mông để lấy ma túy. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, người đàn ông dân tộc Mông gọi điện hẹn T5 đến khu vực cầu B, xã T để giao dịch mua bán ma tuý. Sau đó, T5 đến điểm hẹn gặp và mua của người đàn ông dân tộc Mông 30 gói ma túy hồng phiến bỏ trong túi ni lông màu đỏ với giá 50.000.000 đồng. T5 treo gói ma túy ở móc treo đồ xe mô tô rồi đi về hướng thị trấn K để giao cho H. Khi T5 đi đến xã C, huyện Q thì bị phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an N phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy trên.
Kết luận giám định số 274/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 01/03/2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận:
“- 30 mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M1 đến M30) thu giữ của Vy Thị T gửi giám định đều là ma túy; loại Methamphetamine.
Số viên nén màu hồng (30 gói) thu giữ của Vy Thị T có tổng khối lượng là 639,14 gam”.
Về thu giữ, xử lý vật chứng vụ án:
- 639,14 gam ma túy (Methamphetamine) đã lấy 62,08 gam để giám định còn lại 577,06 gam ma túy (Methamphetamine).
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, biển kiểm soát 37N1-4302 đã qua sử dụng thu giữ của Vy Thị T.
Quá trình điều tra xác định xe mô tô mang biển kiểm soát 37N1-4302 là do Thanh mượn của Quang Văn T6 (sinh năm 1994; trú tại: xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An) vào ngày 23/02/2024. T6 khai xe mô tô trên là của ông Quang Văn H4 (bố T6) mua khoảng năm 2020. Không có giấy tờ đăng ký phương tiện. Sau khi ông H4 chết thì để lại xe mô tô này cho T6 là người quản lý, sử dụng. T6 không biết việc T mượn xe mô tô trên để đi mua bán ma túy.
- Tại Kết luận giám định số 165/KL-KTHS(Đ3-SK,SM) ngày 09/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh N đối với xe mô tô dán nhãn mác Yamaha Sirius, biển kiểm soát 37N1-4302 kết luận:
“Bề mặt kim loại tại vị trí đóng số khung đã bị mài xóa. Quá trình giám định không xác định được số khung nguyên thủy. Các ký tự “WCHUM5X-143158” khung xe được đóng lại trên nền kim loại đã bị mài mòn.
Bề mặt kim loại tại vị trí đóng số máy đã bị tẩy xóa. Quá trình giám định xác định số máy nguyên thủy là: VDEJQ152FMH015628. Các ký tự đóng trên thân máy U00RFMH36014358 được đóng lại trên nền kim loại đã bị tẩy xóa”.
+ Tra cứu thông tin Đăng ký biển số xe 37N1-4302 là xe máy nhãn hiệu VYEM màu xanh. Đăng ký chủ sở hữu là Trần Đình D (sinh năm: 1980; trú tại: xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An), số khung NKWCH5UM5X143158, số máy VLF1P52FMH360143158.
Làm việc với Trần Đình D thì D trình bày: Cách đây khoảng 3 đến 4 năm, sau thời gian sử dụng xe máy Vyem biển kiểm soát 37N1-4302 đã cũ nát nên D đã bán cho người đàn ông thu mua sắt vụn với giá 600.000 đồng.
+ Tra cứu số máy nguyên thuỷ VDEJQ152FMH015628 là của xe nhãn hiệu Espero đăng ký biển kiểm soát 37X5-1265, chủ sở hữu phương tiện Lương Thị Hồng X (sinh năm 1986, trú tại: thị trấn K, huyện Q, Nghệ An).
Do X đang làm việc, cư trú tại xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng nên đã uỷ thác điều tra cho Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng làm việc với Lương Thị Hồng X làm rõ nguồn gốc xe mô tô nhãn hiệu Espero biển số 37X5-1265. Kết quả Lương Thị Hồng X khai: Xe mô tô nhãn hiệu Espero biển số 37X5-1265, X
mua vào khoảng năm 2008. Sau thời gian sử dụng, xe máy thường xuyên bị hư hỏng nên X đã bán xe máy cho một người đàn ông chuyên thu mua phế liệu, đồ cũ với giá 1.000.000 đồng vào khoảng năm 2014.
Căn cứ tại khoản 15 Điều 30 Nghị định 03/VBHN-BGTVT ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Bộ G hợp nhất Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2019 và Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, đã quy định trường hợp bị tịch thu phương tiện: đưa phương tiện đã bị cắt, hàn, đục lại số khung, số máy trái quy định tham gia giao thông; không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của phương tiện. Vì vậy, đề nghị tịch thu xung công quỹ đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, biển kiểm soát 37N1-4302, đã qua sử dụng thu giữ của Vy Thị T.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu xanh đã qua sử dụng, số Imei 1: 351494692514763 thu giữ của Lê Thị H.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng, số Imei 1: 352882109329099 thu giữ của Lê Thị H.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 357723114581743, thu giữ của Vy Thị T.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 862208041344272 thu giữ của Đoàn Thị T3.
Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
Cáo trạng số 157/CT0VKS-P1 ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố các bị cáo Lê Thị H, Vy Thị T, Đoàn Thị T3 về "Tội mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 4, Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Lê Thị H mức án 20 (hai mươi) năm tù; áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 xử phạt bị cáo Vy Thị T mức án 20 (hai mươi) năm tù; áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 56; Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt Đoàn Thị T3 mức án từ 15 (mười lăm) năm đến 16 (mười sáu) năm tù, tổng hợp hình phạt 01 (một năm) tù tại bản án số 76/2016/HSST ngày 29/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 16 (mười sáu) năm đến 17 (mười bảy) năm tù. Các bị cáo đều bị xử phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Miễn phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước các điện thoại di động thu giữ của các bị cáo; chiếc xe máy thu giữ của Vy Thị T; tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của các bị cáo còn lại sau giám định.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Lê Thị H:
Luật sư Nguyễn Thị Ngọc B: Không tranh luận về tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo khai báo thành khẩn, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp lời khai của các bị cáo khác; bị cáo không biết chữ nên nhận thức còn hạn chế; bị cáo bị ung thư vú giai đoạn cuối chưa có điều kiện để điều trị. Đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã đề nghị.
Luật sư Mai Sỹ L2: Không tranh luận về tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo khai báo thành khẩn, không biết chữ nên nhận thức về xã hội hạn chế, không nhận thức được hậu quả của hành vi phạm tội; do bị cáo không biết chữ nên thuộc trường hợp lạc hậu và bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi; bị cáo đặt hàng để mua ma túy nhưng chưa nhận được, có dấu hiệu của phạm tội chưa đạt, do đó đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo H tình tiết tại Điều 15 của Bộ luật hình sự; có phát sinh bệnh u vú. Đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Đoàn Thị T3:
bị cáo khai báo thành khẩn; gia đình có công với cách mạng; bị cáo do nể nang mà phạm tội, phạm tội với vai trò giúp sức; hành vi của bị cáo T3 với vai trò đồng phạm giúp sức nhưng không đáng kể. Đề ghị xử phạt bị cáo 15 năm tù là phù hợp.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Vy Thị T:
Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo lần đầu phạm tội; hành vi phạm tội của bị cáo đã được ngăn chặn nên hậu quả chưa xảy ra. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án nhẹ và phù hợp để đảm bảo tính khoan hồng của luật; về chiếc xe máy đề nghị trả lại cho bị cáo vì chiếc xe máy này do bị cáo đi mượn.
Các bị cáo không có ý kiến bổ sung lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử cho mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và khung hình phạt:
Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Thị H, Đoàn Thị T3, Vy Thị T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng vụ án, bản tự khai của các bị cáo, biên bản lấy lời khai của bị cáo, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
Do đó, đủ căn cứ kết luận: Ngày 13/02/2024, Lê Thị H nhờ Đoàn Thị T3 tìm người mua 30 gói ma túy hồng phiến mục đích bán kiếm lời. Ngày 20/02/2024, T3 liên lạc với Vy Thị T nói có Lê Thị H muốn mua 30 gói ma túy hồng phiến và gửi số điện thoại của H cho T để liên lạc mua bán ma túy. Sau đó, Vy Thị T đã điện thoại cho H hỏi về việc H muốn mua ma túy nên T đã gọi điện cho một người đàn ông dân tộc Mông (không rõ lai lịch địa chỉ) đặt mua 30 gói ma túy hồng phiến với giá là 50.000.000 đồng.
Ngày 21/02/2024, thông qua Đoàn Thị T3, Vy Thị T và Lê Thị H thỏa thuận T bán cho H 30 gói ma túy hồng phiến giá 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng. Ngày 22/02/2024, H đưa trước cho T 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng ở khu vực chợ thị trấn K, huyện Q để T đi mua ma túy.
Ngày 23/02/2024, T đến khu vực cầu B, xã T mua của một người đàn ông dân tộc Mông (không rõ lai lịch địa chỉ) 30 gói ma túy hồng phiến với giá 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Trên đường đưa ma túy về giao cho Lê Thị H, khi đi đến khu vực bản N, xã C, huyện Q thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 30 gói ma túy hồng phiến có tổng khối lượng 639,14 gam ma túy (Methamphetamine).
Lê Thị H, Vy Thị T và Đoàn Thị T3 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 639,14 gam ma túy (Methamphetamine). Do đó, bản Cáo trạng số 157/CT-VKSNA-P1 ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Lê Thị H, Vy Thị T và Đoàn Thị T3 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất của hành vi phạm tội của các bị cáo:
Xét thấy vụ án thuộc loại đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây mất trật tự trị an xã hội và còn là nguyên nhân tiềm ẩn của nhiều tội phạm khác. Các bị cáo Lê Thị H và Vy Thị T hám lợi bất chính nên đã phạm tội. Bị cáo Đoàn Thị T3 do nể nang nên phạm tội (Lê Thị H là chị dâu của T3). Vì vậy cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm khắc. Thấy rằng, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung mới đủ nghiêm.
[4] Xét vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
[4.1] Bị cáo Lê Thị H là người có vai trò chính trong vụ án. Đã chủ động gặp Đoàn Thị T3 nhờ tìm người mua hộ ma túy để về bán lại kiếm lời. Là người đưa tiền cho Vy Thị T để Vy Thị T đi mua ma túy. Bị cáo có nhân thân xấu: đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tuy bị cáo đã chấp hành xong hình phạt của bản án này nhưng không chịu tu dưỡng để trở thành người có ích cho xã hội. Lần phạm tội này là cố ý và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nên phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Bị cáo Vy Thị T khi được bị cáo Đoàn Thị T3 đặt vấn đề nhờ mua ma túy cho bị cáo Lê Thị H và đã nhận lời, khi H trực tiếp trao đổi việc mua bán ma túy đã trực tiếp nhận tiền và tích cực tìm người bán ma túy để mua, đồng thời nâng giá ma túy cao hơn để kiếm lời và là người trực tiếp mua ma túy. Hành vi của bị cáo đã thực hiện là rất tích cực nên cần phải xét xử nghiêm khắc.
[4.3] Bị cáo Đoàn Thị T3 khi được Lê Thị H đặt vấn đề giới thiệu người có thể mua ma túy giúp vì nể nang đã nhận lời kết nối bị cáo H với bị cáo T. Tuy bị cáo không góp tiền, không trực tiếp mua ma túy và không được hưởng lợi nhưng bị cáo phải chịu trách nhiệm với khối lượng ma túy mà bị cáo H, bị cáo T đã mua.
Bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội khi chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo là những người cố ý thực hiện hành vi phạm tội, tội phạm có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, nên cần phải xử phạt nghiêm. Tuy nhiên các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là khai báo thành khẩn được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, đồng phạm giản đơn; xét khối lượng ma túy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội so với tình hình tội phạm ma túy hiện hay trên địa bàn tỉnh Nghệ An nên xử phạt bị cáo H, bị cáo T mức án đầu khung hình phạt là phù hợp; bị cáo T3 phạm tội với vai trò sau cùng, tuy bị cáo đang có tiền án nhưng bố của bị cáo T3 là ông ông Đoàn Văn T4 có công với cách mạng, được tặng Kỷ niệm chương vì đã có thời gian chiến đấu và phục vụ chiến đấu tại Sư đoàn C trong những năm kháng chiến và bảo vệ tổ quốc, được tặng kỷ niệm chương quân tình nguyện Việt Nam giúp Lào; có anh trai ruột là Đoàn Văn H5 tham gia quân đội được tặng danh hiệu Chiến sỹ tiên tiến; bị cáo do nể nang mà phạm tội, trong vụ án bị cáo đồng phạm với vai trò không đáng kể nên áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa cho thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập thấp, tài sản không có gì đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông bán ma túy theo T khai sử dụng số điện thoại 0354.666.xxx. Kết quả thu giữ điện tín số
0354.666.956 đăng ký chủ thuê bao là Phạm Xuân S (sinh năm 1994, nơi đăng ký thường trú: xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An). Làm việc với Phạm Xuân S thì S khai không đăng ký sử dụng số điện thoại 0354.666.xxx, không tham gia mua bán trái phép chất ma tuý với Vy Thị T. Do T không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể của người đàn ông dân tộc Mông bán ma tuý nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xác minh làm rõ và xử lý trong vụ án.
Đối với Quang Văn T6 là người cho T mượn xe mô tô mang biển kiểm soát 37N1-4302 để T đi mua ma túy. Do Quang Văn T6 không biết việc T mượn xe mô tô sử dụng vào mục đích mua bán trái phép chất ma túy nên hành vi của Quang Văn T6 không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[7] Về vật chứng:
Các điện thoại di động thu giữ của các bị cáo, 01 xe máy thu giữ của bị cáo Thanh mượn của anh Quang Văn T6 để thực hiện hành vi phạm tội nhưng không xác định được chủ sở hữu là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước; số ma túy thu giữ của các bị cáo còn lại sau khi giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu, tiêu hủy.
[8] Về án phí:
Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.
Ý kiến của người bào chữa cho bị Lê Thị H cho rằng bị cáo không được đi học nên nhận thức pháp luật kém, có ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, phạm tội do lạc hậu là không đúng nên không chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Lê Thị H, Vy Thị T, Đoàn Thị T3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
-
Về điều luật và hình phạt:
- Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị H 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2024.
- Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vy Thị T 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2024.
- Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 56; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Thị T3 15 (mười lăm) năm tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một năm) tù tại bản án số 76/2016/HSST ngày 29/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2024 nhưng được trừ những ngày bị tạm giữ của bản án số
76/2016/HSST ngày 29/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An từ ngày 01/6/2016 đến ngày 10/6/2016.
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.
-
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, biển kiểm soát 37N1-4302, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen đã qua sử dụng thu giữ của Vy Thị T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu xanh đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Lê Thị H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen đã qua sử dụng thu giữ của Đoàn Thị T3;
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp cát tông, được niêm phong theo quy định bên trong chứa 577,06 gam ma túy (Methamphetamine) của đối tượng Vy Thị T.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng cơ quan Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Tình trạng, chi tiết vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Lê Thị H, Vy Thị T, Đoàn Thị T3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Thị H, Vy Thị T, Đoàn Thị T3 được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy Quỳnh |
Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 160/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép ma túy
