Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂY NINH

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 160/2024/DS-ST

Ngày: 09.9.2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Bình

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Tấn Phát
  2. Bà Nguyễn Thị Thị Bích Phượng

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh - là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Nhiên - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 212/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2024,về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T; địa chỉ: 266 -268 Nam Kỳ Khởi Ngh, phường Võ Thị S quận X, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D. Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Hồng S. Chức vụ: Giám đốc - Chi nhánh Tây Ninh theo văn bản ủy quyền số 3270/2022/QĐ-PL, ngày 26.12.2022, ông S ủy quyền cho ông Cao Hiền Trí Ph, chức vụ chuyên viên quản lý nợ tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền số: 79/2024/QĐ-PL ngày 06.3.2024, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoài Ph, sinh năm 1995; địa chỉ: Số 20, đường Trưng Nữ V, khu phố X, phường Y, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 02 tháng 5 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án ông Cao Hiền Trí Ph người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 21.12.2021 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T có ký Hợp đồng vay vốn theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thẻ nội địa số: 190217 và số 1902022 thẻ Quốc tế cho anh Ph vay số tiền với hạn mức 15.000.000. đồng (mười lăm triệu đồng), lãi suất trong hạn 2,7%/ tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, mục đích vay tiêu dùng, vay tín chấp, cụ thể:

1/ Thẻ nội địa:

Ngày 15.02.2022 anh Ph sử dụng thẻ nội địa rút 14.100.000 đồng, lãi phát sinh là 317.720. đồng, phí thường niên 200.000 đồng, tổng cộng đã sử dụng là 14.617.720 đồng .

Ngày 15.3.2022 anh Ph nộp vào thanh toán lại số tiền 1.114.558 đồng, tiền lãi phát sinh trong tháng 3 là 333.147 đồng nên số dư cuối kỳ của tháng 3 nợ lại 13.836.309 đồng .

Ngày 15.4.2022 anh Ph rút 4.000.000 đồng, thanh toán lại 4.500.007 đồng, tiền lãi phát sinh trong tháng 4 là 353.109 đồng nên cuối kỳ số nợ còn lại 13.689.411 đồng.

Ngày 15.5.2022 anh Ph thanh toán số tiền 833.869 đồng, tiền lãi phát sinh trong tháng là 334.260 đồng, cuối kỳ nợ lại 13.189.802 đồng .

Ngày 15.6.2022 anh Ph, thanh toán hết số tiền nợ 13.189.802 đồng nên không phát sinh tiền lãi.

Ngày 15.8.2022 anh Ph rút 3.010.000 đồng, thanh toán lại 494.861 đồng, tiền lãi phát sinh trong tháng 8 là 9.562 đồng nên cuối kỳ số nợ còn lại 2.518.701 đồng. Anh Ph sử dụng thẻ đến ngày 15.12.2023 anh Ph trả số tiền 2.000.000 đồng, còn lại số tiền 14.786.466 đồng thì không trả nửa cho đến nay.

Ngày 15.3.2023 thì Ngân hàng chuyển số tiền trên + phí và lãi qua dư nợ quá hạn. Tính đến này 09.9.2024 anh Ph còn nợ ngân hàng nợ gốc 16.554.652 đồng; lãi quá hạn: 4.075.310 đồng, tổng cộng: 20.629.962 đồng .

2/ Thẻ Quốc tế:

Ngày 10.02.2022 anh Ph rút số tiền 100.000 đồng, phí thường niên 299.000 đồng, ngày 10.3.2022 anh Ph thanh toán số tiền 399.000 đồng

Ngày 10.01.2023 phí phát sinh 299.000 đồng tiền phí thường niên, từ đó đến nay anh Ph không rút tiền và cũng không thông báo cho ngân hàng thanh lý thẻ nên tiền lãi vẫn phát sinh. Tính đến ngày 09.9.2024 tiền dư nợ gốc 342.776 đồng và tiền lãi quá hạn 69.836 đồng, tổng cộng 412.612 đồng.

Tổng cộng 02 khoản anh Ph còn nợ ngân hàng tính đến này 09.9.2024 nợ gốc 16.897.428 đồng; lãi quá hạn: 4.145.146 đồng Tổng cộng: 21.042.574 đồng (hai mươi mốt triệu không trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi bốn đồng).

Ngân hàng yêu cầu anh Ph trả số tiền trên và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và các phụ lục trong hợp đồng tín dụng.

Bị đơn anh Nguyễn Hoài Ph đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không đến Tòa nên không có lời trình bày.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.

+ Về nội dung: Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T. Buộc anh Nguyễn Hoài Ph có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T số tiền tính đến ngày 09.09.2024, tổng cộng: 21.042.574 đồng; trong đó tiền gốc 16.897.428 đồng; lãi quá hạn: 4.145.146 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng.

Án phí: Đương sự chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Ông Cao Hiền Trí Ph đại diện cho nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Ph.

Anh Nguyễn Hoài Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh Ph.

[2] Về nội dung: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T yêu cầu anh Nguyễn Hoài Ph trả tiền gốc: 16.897.428 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 09.9.2024, lãi quá hạn: 4.145.146 đồng; tổng cộng: 21.042.574 đồng (hai mươi mốt triệu không trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi bốn đồng) và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 190217 và số 1902022 ngày 21.12.2021.

Xét thấy: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T có đủ chứng cứ chứng minh ngày 21.12.2021 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T và anh Nguyễn Hoài Ph ký Hợp đồng vay vốn theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 190217 và số 1902022 cho anh Ph vay số tiền với hạn mức 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Nội dung hợp đồng thể hiện rõ thỏa thuận của hai bên về số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất, mục đích sử dụng tiền vay, biện pháp bảo đảm trả nợ. Quá trình vay anh Ph đã thanh toán tiền cho ngân hàng đến ngày 15.12.2023 thì ngưng đến nay không trả nữa. Như vậy anh Ph vi phạm nghĩa vụ đối với Ngân hàng.

Đối với việc Ngân hàng yêu cầu tính lãi suất theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký cụ thể lãi suất trong hạn là 2,77%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thể hiện cụ thể rõ ràng trong hợp đồng, xét yêu cầu tính lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T là có cơ sở chấp nhận; bởi lẽ, khi vay tiền anh Ph có ký hợp đồng tín dụng, có thỏa thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn. Do đó Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T yêu cầu anh Ph trả cho Ngân hàng số tiền gốc: 16.897.428 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 09.9.2024, lãi quá hạn: 4.145.146 đồng; tổng cộng: 21.042.574 đồng (hai mươi mốt triệu không trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi bốn đồng) và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 190217 và số 1902022 ngày 21.12.2021 là có căn cứ.

[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại cổ phần Sài Gòn Thương T.
  2. Buộc anh Nguyễn Hoài Ph có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T số tiền tính đến ngày 09.9.2024 tổng cộng 21.042.574 đồng (hai mươi mốt triệu không trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi bốn đồng); trong đó tiền gốc 16.897.428 đồng; lãi quá hạn: 4.145.146 đồng).

    Kể từ ngày10.09.2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số: 190217 và số 1902022 ngày 21.12.2021. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà anh Ph phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Hoài Ph phải chịu 1.052.128 đồng (một triệu không trăm năm mươi hai nghìn một trăm hai mươi tám đồng)

    Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T không phải chịu tiền án phí; hoàn trả lại cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002752 ngày 04 tháng 5 năm 2024 của chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND TPTN;
  • - THADS TP TN
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Tập án; H/s.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Minh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 160/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng yêu cầu anh Phong trả nợ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger