TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 160/2024/HS-ST Ngày 07/6/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Đặng Ngọc Thương
Ông Vũ Văn Chương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngà – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh T - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 148/2024/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2024/QĐST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Đức M, sinh năm 1989 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký thường trú: 38/22 Lê Hồng P, khu phố L, thị trấn L, huyện B, Tỉnh Bình Thuận; Nơi ở trước khi bị bắt: 17/31 đường N, phường G, Tp V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Phạm Văn L, sinh năm 1963; Mẹ: Bùi Thị D, sinh năm 1963; Vợ: Nguyễn Thị Diệu L1, sinh năm 1990; Con: Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 26/01/2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 09 giờ 45 phút, ngày 26/01/2024, tại khu vực trước địa chỉ số A N, Phường G, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an P1, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bắt quả tang Phạm Đức M đang tàng trữ trái phép chất ma túy, đồng thời thu giữ vật chứng có liên quan.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T, Phạm Đức M khai nhận: Bản thân M sử dụng ma túy từ đầu năm 2023 cho đến ngày bị bắt quả tang. Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy, nên vào khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 26/01/2024, Phạm Đức M đi đến khu vực ngã tư B, Phường T, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, gặp một người thanh niên không biết tên (không rõ nhân thân lai lịch) mua một gói ma túy đá với số tiền là 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng), M thanh toán bằng tiền mặt. Sau khi mua xong, M mang về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 09 giờ 45 phút, ngày 26/01/2024, M mang gói ma túy đá đứng trước địa chỉ số A đường N, Phường G, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì bị Công an P1, TP V, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật gồm: 01 (một) gói ma túy đá mới mua chưa sử dụng, Công an phường tiến hành lập biên bản thu giữ tang vật niêm phong theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 144/KL-KTHS-MT, ngày 31/01/2024 của Phòng K, Công an Tỉnh B kết luận: Số ma túy thu giữ của M (01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt) gửi giám định có khối lượng 0,1023 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Lời khai của Phạm Đức M phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ thu thập được (các bút lục điều tra từ số 43 đến số F).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan Công an thu giữ vật chứng và các tài sản gồm:
- 01 gói niêm phong số 144, ngày 31/01/2024 của phòng K Công an tỉnh B, mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định;
Hiện đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự TP Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 154/CT-VKSTPVT ngày 10/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Phạm Đức M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật trong vụ án.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 09 giờ 45 phút, ngày 26/01/2024, tại khu vực trước địa chỉ số A N, Phường G, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phạm Đức M bị Công an P1, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bắt quả tang đang tàng trữ 0,1023 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Như vậy, hành vi Phạm Đức M thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, là người sử dụng ma túy nên biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không có khả năng thi hành án phạt bổ sung là hình phạt tiền. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
01 gói niêm phong số 144, ngày 31/01/2024 của phòng K Công an tỉnh B chứa mẫu vật mang đi giám định đã sử dụng hết nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Phạm Đức M, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Đức M: 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 01 năm 2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 144, ngày 31/01/2024 của phòng K Công an tỉnh B chứa mẫu vật mang đi giám định đã sử dụng hết nên tịch thu tiêu hủy.
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 190/BB - CCTHADS ngày 13/5/2024.
4. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Nga |
Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 160/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Đức Minh
