|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 160/2023/HSST Ngày: 06/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Vũ
2. Bà Nông Thị Duyên
Thư ký phiên tòa: Ông Vi Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến tại điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là phòng hỏi cung Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 154/2023/TLST- HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2023/QĐXXST- HS ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức T; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 06/10/1969 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 04/12 phổ thông; Con ông: Nguyễn Đình T1 (đã chết), con bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1938, trú tại: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; A, chị, em ruột: Bị cáo là con út trong gia đình có 02 chị em; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1972, trú tại tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con: 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1996; Tiền án: Ngày 29/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 15 (mười năm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 18/11/2005, Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
1
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C từ ngày 01/8/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Phạm Thị T2, sinh năm 1970, trú tại tổ A, phường S, thành phố C. Vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 01/8/2023, Nguyễn Đức T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11B1- 090.07 đi từ nhà đến khu vực bến xe khách cũ thuộc phường S, thành phố C để tìm mua ma túy về sử dụng, tại đây T gặp và hỏi mua 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) Heroine với một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) dáng giống người nghiện, người đàn ông đồng ý, nhận tiền và đưa cho T 01 (một) gói giấy vệ sinh màu trắng bên trong có 01 (một) gói nhỏ gói bằng giấy bạc màu trắng bên trong chứa ma túy, loại Heroine. T nhận gói H1 và để trong túi quần phía trước bên phải chiếc quần T đang mặc, sau đó T điều khiển xe mô tô đến khu vực thuộc tổ A, H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, T đi vào một hiệu thuốc mua 01 (một) bơm kim tiêm xi lanh và 01 (một) lọ nước cất, T chuẩn bị đi tìm chỗ để sử dụng thì vào hồi 11 giờ 05 phút bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố C bắt quả tang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ:
+ 01 (một) gói giấy vệ sinh màu trắng bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (T khai nhận là H1) có khối lượng 0,12g (không phẩy mười hai gam) do T tự giác giao nộp từ túi quần đằng trước bên phải chiếc quần T đang mặc.
+ 01 (một) xi lanh kim tiêm và 01 (một) lọ nước cất được thu giữ tại túi quần đằng trước bên phải chiếc quần T đang mặc.
+ 01 (một) Điện thoại di động màu xanh, mặt trước và sau có chữ VIETTEL có số IMEI 356781093773609, điện thoại cũ đã qua sử dụng được thu giữ tại túi quần đằng trước bên trái chiếc quần T đang mặc.
+ 01 (một) xe mô tô màu nâu đỏ bên ngoài có chữ HONDA mang biển kiểm soát 11B1- 090.07, xe cũ đã qua sử dụng.
Ngày 01/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 268 đối với vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số 406/KL-KTHS ngày 08/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin).
Đối với chiếc xe mô tô màu nâu đỏ bên ngoài có chữ HONDA mang biển kiểm soát 11B1- 090.07, xe cũ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Đức T. Qua điều tra xác minh, xác định chủ sở hữu chiếc xe là Phạm Thị T2 (sinh năm 1970,
2
trú tại tổ A, phường S, thành phố C) hàng xóm của Nguyễn Đức T. Ngày 01/8/2023, T mượn xe mô tô của T2 để đi có việc, T2 không biết việc T sử dụng chiếc xe làm phương tiện để thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, nên ngày 13/9/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sở hữu.
Tại bản Cáo trạng số: 156/CT-VKSTP ngày 14/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với trọng lượng ma túy bị thu giữ và kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh C. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án. Về vật chứng, tài sản thu giữ: bị cáo có yêu cầu được trả lại 01 điện thoại di động màu xanh, mặt trước và sau có chữ VIETTEL do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Thị T2 có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, xác nhận đã nhận lại 01 (một) chiếc xe mô tô màu nâu đỏ bên ngoài có chữ HONDA mang biển kiểm soát 11B1- 090.07 và không có yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, Đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước phong bì ghi: “Số 406/KL-KTHS, hoàn lại mẫu sau giám định vụ Nguyễn Đức T, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 01/8/2023”; 01 (một) xi lanh kim tiêm, 01 (một) lọ nước cất (N); Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động (loại bàn phím) màu xanh, mặt trước và sau có chữ VIETTEL, có số IMEI: 356781093773609, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra vấn đề xem xét đối với bị cáo.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.
3
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được đoàn tụ cùng gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 11 giờ 05 phút ngày 01/8/2023 tại khu vực tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Nguyễn Đức T có hành vi tàng trữ trái phép 0,12g (không phẩy mười hai gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xóa án tích: Ngày 29/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi
4
của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an trên địa bàn, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Bị cáo có 01 (một) tiền án chưa xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới, không có ý thức tự cải tạo bản thân nên cần có hình phạt nghiêm khắc với hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về việc xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước phong bì ghi: “Số 406/KL-KTHS, hoàn lại mẫu sau giám định vụ Nguyễn Đức T, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 01/8/2023”. Xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 (một) xi lanh kim tiêm, 01 (một) lọ nước cất (N) bị cáo khai nhận mua để dùng làm công cụ sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy;
Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động (loại bàn phím) màu xanh, mặt trước và sau có chữ VIETTEL, có số IMEI: 356781093773609, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do đây là tài sản bị cáo sử dụng làm phương tiện liên lạc cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với chiếc xe mô tô màu nâu đỏ bên ngoài có chữ HONDA mang biển kiểm soát 11B1- 090.07, xe cũ đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu chiếc xe là Phạm Thị T2 là có căn cứ. Bà T2 không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra vấn đề trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
[7] Về nguồn gốc số ma túy Nguyễn Đức T khai được mua với một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh.
[8] Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành
5
hình phạt tù được tính kể từ ngày 01/8/2023.
2. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, xử:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước phong bì ghi: “SỐ 406/KL-KTHS, hoàn lại mẫu sau giám định vụ Nguyễn Đức T, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 01/8/2023” (Đã có Kết luận giám định số 406/KL-KTHS ngày 08/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh C); 01 (một) xi lanh kim tiêm, 01 (một) lọ nước cất (N1).
Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động (loại bàn phím) màu xanh, mặt trước và sau có chữ VIETTEL, có số IMEI: 356781093773609, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản bàn giao vật chứng số 17 ngày 20/11/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Thị T2 đã nhận lại 01 (một) chiếc xe mô tô màu nâu đỏ bên ngoài có chữ HONDA mang biển kiểm soát 11B1- 090.07 và không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra vấn đề xem xét.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hanh |
6
7
8
Bản án số 160/2023/HSST ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 160/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T tàng trữ trái phép chất ma tuý
