TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 160/2025/KDTM-PT
Ngày: 06/6/2025
V/v tranh chấp đòi lại tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Đoan Trang
Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Quỳnh Trâm
Ông Đào Quốc Thịnh
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Kim Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thuỷ – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28/4/2025, 27/5/2025 và 06/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2025/TLPT-KDTM ngày 05 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do bản án sơ thẩm số 43/2024/KDTM-ST ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1853/2025/QĐPT-KDTM ngày 01 tháng 4 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H
Địa chỉ: 3 P, phường N, Quận A, TP H
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc T, sinh năm 1984; bà Trần Thị Kim P, sinh năm 1983
(Theo Giấy ủy quyền số 587/GUQ-ĐTTC ngày 08/4/2025 và Giấy ủy quyền số 866/GUQ-ĐTTC ngày 27/5/2025)
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1
Địa chỉ: C M, Phường B, Quận A, TP H
Người đại diện theo pháp luật: Ông Châu Nhựt T1, sinh năm 1957
Địa chỉ: C M, Phường B, Quận A, TP H
1
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Châu Nhựt T1, sinh năm 1957
- Ông Huỳnh Thiên V, sinh năm 1959
- Ông Phạm Thành L, sinh năm 1981
- Ông Phạm Thành S, sinh năm 1970
- Bà Huỳnh Mỹ P1, sinh năm 1965
- Bà Tô Hiền D, sinh năm 1963
- Bà Ngô Nhất H, sinh năm 1961
- Bà Huỳnh Ngọc M, sinh năm 1994
- Ông Huỳnh Du P2, sinh năm 1998
Địa chỉ: C M, Phường B, Quận A, TP H
Địa chỉ: 1 L, Phường F, Quận F, TP H
Địa chỉ: Ấp H, thị trấn L, huyện T, Tỉnh Sóc Trăng
Tạm trú: B T, phường T, Quận A, TP H
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Thành N, sinh năm 1991
Địa chỉ: D V, phường T, Quận A, TP H
(Theo Giấy ủy quyền ngày 26/5/2025)
Địa chỉ: D V, phường T, Quận A, TP H
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Thành N, sinh năm 1991
Địa chỉ: D V, phường T, Quận A, TP H
Địa chỉ: B T, phường T, Quận A, TP H
Địa chỉ: 1 L, Phường F, Quận F, TP H
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Thiên V, sinh năm 1959
Địa chỉ: 1 L, Phường F, Quận F, TP H
(Theo Giấy ủy quyền ngày 14/4/2025)
Cùng địa chỉ: C B, Phường A, Quận F, TP H
(Nguyên đơn và bị đơn có mặt tại phiên toà; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa gồm: Ông T1, ông V, ông L và ông S do ông N đại diện, bà D do V đại diện; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa gồm: Huỳnh Mỹ P1, Ngô Nhất H, Huỳnh Ngọc M, Huỳnh Du P2 có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm như sau:
[1] Nguyên đơn trình bày:
2
Theo Đơn khởi kiện, Đơn khởi kiện bổ sung và các Biên bản lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H, do ông Trần Quốc T và bà Nguyễn Thị Hoàng V1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:
Vào năm 2010, giữa Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H (gọi tắt là Công ty Tài chính Thành phố H) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 (gọi tắt là Công ty H1) có ký kết 02 Hợp đồng tín dụng là:
- Hợp đồng tín dụng ủy thác số: 313/2010/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 06/8/2010: Theo đó, Công ty Tài chính Thành phố H đã cho Công ty H1 vay số tiền là 23.471.000.000 đồng, thời hạn vay: 10 tháng tính kể từ ngày giải ngân của từng đợt giải ngân. Lãi suất vay: 0%/tháng – Phí ủy thác: 0,07%/tháng tính trên số dư nợ vay.
- Hợp đồng tín dụng ủy thác số: 86/2011/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 09/5/2011: Theo đó, Công ty Tài chính Thành phố H đã cho Công ty H1 vay số tiền là 25.235.000.000 đồng, thời hạn vay: 12 tháng tính kể từ ngày giải ngân của từng đợt giải ngân. Lãi suất vay: 0%/tháng – Phí ủy thác: 0,15%/tháng tính trên số dư nợ vay.
Đến ngày 01/02/2023, giữa Công ty Tài chính Thành phố H và Công ty H1 đã ký Bảng đối chiếu công nợ, xác nhận tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi mà Công ty H1 còn thiếu Công ty Tài chính Thành phố H theo 02 Hợp đồng tín dụng ủy thác trên, tính đến ngày 31/12/2022 là 28.873.469.224 đồng.
Trong quá trình vay, ông Phạm Thành S và ông Huỳnh Thiên V, là các thành viên của Công ty H1 đã dùng các tài sản của mình thế chấp cho Công ty Tài chính Thành phố H để đảm bảo cho việc trả nợ của Công ty H1, cụ thể như sau:
- Ông Huỳnh Thiên V và bà Tô Hiền D (bà D là vợ ông V) đã thế chấp 02 tài sản là nhà và đất tại địa chỉ: 1 và 1 L, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp 67/2012/HĐ-TC-ĐTTC-UT ngày 20/4/2012 ký kết giữa Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H và ông Huỳnh Thiên V, bà Tô Hiền D. Hợp đồng được lập tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Phạm Thành S đã thế chấp 01 tài sản là nhà và đất tại địa chỉ: A (trệt-lững) L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp 68/2012/HĐ-TC-ĐTTC-UT ngày 20/4/2012 ký kết giữa Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H và ông Phạm Thành S. Hợp đồng được lập tại Công ty Tài chính Thành phố H, giữa hai bên tự ký kết với nhau.
Phía Công ty Tài chính Thành phố H xác định hiện nay đang giữ bản chính giấy tờ nhà đất của ông Huỳnh Thiên V, bà Tô Hiền D và ông Phạm Thành S đối với các tài sản nêu trên.
Theo Đơn khởi kiện ngày 27/12/2023, Công ty Tài chính Thành phố H yêu cầu Công ty H1 phải trả toàn bộ số nợ 28.873.469.224 đồng một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Trường hợp Công ty H1 không trả số tiền nợ trên thì yêu cầu các thành viên công ty phải liên đới chịu trách nhiệm cá nhân đối với khoản nợ của Công ty TNHH H1 tương ứng với tỷ lệ góp vốn theo đúng như đã cam kết tại các cuộc họp hội đồng thành viên, cụ thể như sau:
- Ông Châu Nhựt T1 chịu trách nhiệm trả nợ tương ứng với tỷ lệ góp vốn 33,650%, tương đương số tiền 9.715.922.394 đồng.
3
- Ông Phạm Thành S và Phạm Thành L cùng chịu trách nhiệm trả nợ tương ứng với tỷ lệ góp vốn 33,650%, tương đương số tiền 9.715.922.394 đồng.
- Ông Huỳnh Thiên V chịu trách nhiệm trả nợ tương ứng với tỷ lệ góp vốn 18,270%, tương đương số tiền 5.275.182.827 đồng.
- Ông Huỳnh Hồng Đ chịu trách nhiệm trả nợ tương ứng với tỷ lệ góp vốn 14,420%, tương đương số tiền 4.163.554.262 đồng.
Tại đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 11/9/2024, Công ty Tài chính Thành phố H yêu cầu Công ty H1 phải trả toàn bộ số nợ 28.873.469.224 đồng một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Trường hợp Công ty H1 không trả số nợ trên thì yêu cầu các thành viên liên quan công ty gồm: Ông Châu Nhựt T1, ông Phạm Thành S, ông Phạm Thành L, ông Huỳnh Thiên V và ông Huỳnh Hồng Đ phải có trách nhiệm liên đới trả toàn bộ số nợ gốc và lãi phát sinh cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty Tài chính Thành phố H có Đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 11 áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về “Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ” theo quy định tại Điều 128 Bộ luật tố tụng dân sự đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là: Ông Châu Nhựt T1, ông Huỳnh Thiên V, ông Phạm Thành S và ông Phạm Thành L.
Căn cứ vào chứng cứ do Công ty Tài chính Thành phố H cung cấp thì hiện nay các ông Châu Nhựt T1, ông Huỳnh Thiên V và ông Phạm Thành S đang bị cấm xuất cảnh theo Quyết định số 728/QĐ-UBND ngày 13/02/2012 “Về chưa cho công dân Việt Nam xuất cảnh” của Ủy ban nhân dân Thành phố H và đến nay quyết định trên vẫn còn hiệu lực, chưa có quyết định nào khác để hủy bỏ hoặc thay thế quyết định trên. Do đó, không có cơ sở để Tòa án nhân dân Quận 11 tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về “Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ” đối với ông Châu Nhựt T1, ông Huỳnh Thiên V, ông Phạm Thành S. Tòa án nhân dân Quận 11 chỉ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về “Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ” đối với ông Phạm Thành L theo Quyết định số 01/2024/QĐ-BPKCTT ngày 26 tháng 8 năm 2024.
Tại phiên tòa, ông Trần Quốc T và bà Nguyễn Thị Hoàng V1 là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Tài chính Thành phố H xác định các yêu cầu cụ thể như sau:
- Công ty Tài chính Thành phố H yêu cầu Công ty H1 trả toàn bộ số nợ 28.873.469.224 đồng, yêu cầu trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Trường hợp Công ty H1 không trả số nợ trên thì yêu cầu các thành viên liên quan công ty gồm: Ông Châu Nhựt T1, ông Huỳnh Thiên V, ông Phạm Thành L và ông Phạm Thành S có trách nhiệm liên đới trả toàn bộ số nợ trên cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ.
- Phía Công ty Tài chính Thành phố H xác định hiện nay ông Huỳnh Hồng Đ đã chết và không yêu cầu những người thừa kế theo pháp luật của ông Đ có trách nhiệm trả nợ thay cho ông Đ.
[2] Bị đơn trình bày:
4
Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 (gọi tắt là Công ty H1), do ông Châu Nhựt T1 là người đại diện theo pháp luật trình bày:
Công ty H1 thừa nhận hiện nay còn thiếu nợ Công ty Tài chính Thành phố H số theo 02 Hợp đồng tín dụng ủy thác như trên, tính đến ngày 31/12/2022 là 28.873.469.224 đồng theo Bảng đối chiếu công nợ ngày 01/02/2023 ký kết giữa hai bên.
Do ông Huỳnh Hồng Đ đã chết nên trường hợp đến hạn mà Công ty H1 không trả nợ cho Công ty Tài chính Thành phố H được thì các thành viên công ty hiện nay của công ty là ông Châu Nhựt T1, ông Huỳnh Thiên V, ông Phạm Thành L sẽ có trách nhiệm liên đới trả thay cho Công ty toàn bộ số tiền nợ trên.
Theo Biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 23/5/2024, các thành viên của Công ty sẽ có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ trên như sau:
- Ông Châu Nhựt T1 trả: 10.282.469.224 đồng.
- Ông Huỳnh Thiên V trả: 10.267.000.000 đồng.
- Ông Phạm Thành L trả: 8.324.000.000 đồng.
Sau khi Công ty H1 xin ý kiến của Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc xem xét giảm lãi và phí trong tổng số tiền nợ trên và thanh lý các tài sản của Công ty thì Công ty H1 mới có kế hoạch cụ thể về việc trả nợ cho Công ty Tài chính Thành phố H.
Hiện nay ông Phạm Thành S không còn là thành viên của Công ty Huỳnh Gia Huynh Đ1, ông S không còn quyền và nghĩa vụ gì tại Công ty. Tất cả quyền và nghĩa vụ còn lại của ông S tại công ty đã được chuyển giao cho ông Phạm Thành L. Ông L có nghĩa vụ trả thay cho ông S những khoản nợ còn lại tại Công ty H1 cho Công ty Tài chính Thành phố H.
Tại phiên tòa: Ông Châu Nhựt T1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty H1 vẫn giữ các ý kiến như trên. Đồng thời, ông T1 đề nghị phía Công ty Tài chính Thành phố H xem xét miễn giảm lãi và phí trong tổng số tiền nợ trên cho Công ty H1.
Đồng thời, ông Châu Nhựt T1 xác định từ khi ông Huỳnh Hồng Đ chết cho đến nay, phía Công ty H1 không có chia một khoản tiền lãi nào của Công ty cho những người thừa kế của ông Đ là bà Ngô Nhất H, bà Huỳnh Ngọc M và ông Huỳnh Du P2.
[3] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
a) Ông Châu Nhựt T1, ông Huỳnh Thiên V, ông Phạm Thành L trình bày:
Trường hợp đến hạn trả nợ mà Công ty H1 không trả nợ được cho Công ty Tài chính Thành phố H thì ông T1, ông V và ông L sẽ có trách nhiệm trả thay toàn bộ số tiền nợ 28.873.469.224 đồng theo Biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 23/5/2024, cụ thể:
- Ông Châu Nhựt T1 trả: 10.282.469.224 đồng.
- Ông Huỳnh Thiên V trả: 10.267.000.000 đồng.
5
- Ông Phạm Thành L trả: 8.324.000.000 đồng.
Đồng thời, ông Phạm Thành L xác định các quyền và nghĩa vụ của ông Phạm Thành S tại Công ty H1 đã được chuyển giao cho ông L. Hiện nay ông Phạm Thành S không còn quyền và nghĩa vụ gì tại Công ty H1.
Tại phiên tòa, ông Châu Nhựt T1, ông Huỳnh Thiên V và ông Phạm Thành L vẫn giữ ý kiến trình bày như trên.
b) Ông Huỳnh Thiên V và bà Tô Hiền D trình bày:
Ông V và bà D xác định có thế chấp 02 tài sản là nhà đất tại địa chỉ: 1 và 1 L, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh do ông V và bà D là chủ sở hữu cho Công ty Tài chính Thành phố H.
Tại phiên tòa, ông Huỳnh Thiên V cho biết việc thế chấp nhà này là để làm tin cho Công ty H1 vay tiền của Công ty Tài chính Thành phố H. Ông V cho biết Hợp đồng thế chấp được lập tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh, có xác nhận của Phòng công chứng nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định.
Bà Tô Hiền D có Đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
c) Ông Phạm Thành S do ông Phạm Thành N là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Hiện nay ông Phạm Thành S không còn là thành viên của Công ty H1, mọi quyền và nghĩa vụ còn lại của ông S tại công ty đã được chuyển giao cho ông Phạm Thành L. Ông L có nghĩa vụ trả thay cho ông S những khoản nợ còn lại tại Công ty H1 cho Công ty Tài chính Thành phố H. Hiện nay ông Phạm Thành S không còn quyền và nghĩa vụ gì tại Công ty H1. Việc Công ty Tài chính Thành phố H vẫn tiếp tục yêu cầu ông Phạm Thành S trả nợ thay cho Công ty H1 là không có cơ sở.
Căn cứ Biên bản làm việc ngày 24/10/2012 tại Công ty Tài chính Thành phố H xác định trách nhiệm trả nợ của ông Phạm Thành S đối với Công ty Tài chính Thành phố H là 33,650% tương dương số tiền là 15.824.000.000 đồng tiền nợ gốc. Ông S đã hoàn thành trách nhiệm trả số trên theo Công văn số 764/ĐTTC-QLCNVUT ngày 18/5/2022 về việc thu hồi nợ của Công ty Tài chính Thành phố H. Còn lại phần tiền lãi và phí còn lại là 5.055.000.000 đồng, phần tiền này đã được chuyển giao trách nhiệm cho ông Phạm Thành L phải trả cho Công ty Tài chính Thành phố H.
Giữa ông Phạm Thành S và Công ty Tài chính Thành phố H đã có ghi nhận và xác định về việc trả nợ gốc và chuyển giao nghĩa vụ còn lại của ông S và ông Phạm Thành L theo Biên bản làm việc ngày 16/5/2022 và Biên bản làm việc ngày 04/11/2022. Đồng thời, ông Phạm Thành S có yêu cầu độc lập như sau:
Yêu cầu Công ty Tài chính Thành phố H phải trả lại bản chính giấy tờ nhà đất đang thu giữ của ông S đối với nhà và đất tại địa chỉ: A L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh vì việc thế chấp tài sản này không đúng quy định pháp luật. Đó là tài sản chung của vợ chồng ông Phạm Thành S và bà Huỳnh Mỹ P1 trong thời kỳ hôn nhân nhưng ông S đã tự đem thế chấp cho Công ty Tài chính Thành phố H và chỉ có
6
hai bên tự ký Hợp đồng với nhau, không có xác nhận của Cơ quan công chứng gì cả. Do đó, Hợp đồng thế chấp tài sản này là vô hiệu.
Đồng thời, ông Phạm Thành S yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 11 kiến nghị Ủy ban nhân dân Thành phố H rút lại hoặc hủy bỏ việc “Cấm xuất cảnh” đối với ông S theo Quyết định số 728/QĐ-UBND ngày 13/02/2012 và Công văn số 201-VP-KT ngày 14/3/2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố H vì hiện nay ông Phạm Thành S không còn là thành viên và không còn quyền và nghĩa vụ gì tại Công ty H1.
Tại phiên tòa, ông Phạm Thành N là người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Thành S vẫn giữ nguyên các ý kiến và yêu cầu như trên.
d) Bà Huỳnh Mỹ P1 trình bày:
Yêu cầu Công ty Tài chính Thành phố H trả lại bản chính giấy tờ đối với nhà và đất tại địa chỉ: A L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tài sản chung của vợ chồng ông Phạm Thành S và bà Huỳnh Mỹ P1 trong thời kỳ hôn nhân nhưng ông S đã tự đem thế chấp cho Công ty Tài chính Thành phố H và chỉ có hai bên tự ký Hợp đồng với nhau, không có xác nhận của Cơ quan công chứng gì cả. Do đó, Hợp đồng thế chấp tài sản này là vô hiệu vì không đúng quy định pháp luật.
Bà Huỳnh Mỹ P1 có đơn yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa.
e) Bà Ngô Nhất H, bà Huỳnh Ngọc M và ông Huỳnh Du P2 trình bày:
Bà Ngô Nhất H là vợ ông Huỳnh Hồng Đ. Bà Huỳnh Ngọc M và ông Huỳnh Du P2 là con của ông Huỳnh Hồng Đ.
Bà H, bà M và ông P2 xác định: Khi còn sống ông Huỳnh Hồng Đ là thành viên góp vốn của Công ty H1, đó là việc làm kinh doanh riêng của ông Đ, bản thân bà H, bà M và ông P2 không tham gia vào việc kinh doanh này và cũng không góp vốn cùng với ông Đ tại Công ty. Số tiền mà ông Huỳnh Hồng Đ đã tham gia góp vốn đối với Công ty H1 là tài sản riêng của ông Đ, hoàn toàn không liên quan đến cá nhân bà H, bà M và ông P2.
Nay ông Huỳnh Hồng Đ đã chết nên các nghĩa vụ còn lại của ông Đ tại Công ty H1 sẽ do các thành viên còn lại của Công ty giải quyết. Bà H, bà M và ông P2 không phải là thành viên Công ty H1 và cũng không thừa kế quyền và nghĩa vụ gì của ông Đ tại Công ty H1. Đồng thời, cá nhân bà H, bà M và ông P2 cũng không hưởng những khoản lợi nhuận (nếu có) trong việc góp vốn của ông Đ đối với Công ty H1 từ khi ông Đ góp vốn cho đến nay.
Trong vụ án về “Tranh chấp đòi lại tài sản” do Công ty Tài chính Thành phố H khởi kiện đối với Công ty H1, các thành viên hiện nay của Công ty H1 là các ông Châu Nhật T2, ông Huỳnh Thiên V và ông Phạm Thành L đã tự thỏa thuận được với nhau về việc chịu trách nhiệm trả thay cho ông Huỳnh Hồng Đ đối với nghĩa vụ trả nợ của ông Đ cho Công ty Tài chính Nhà nước Thành phố H nên cá nhân bà H, bà M và ông P2 không có liên quan gì đến nghĩa vụ trả nợ của ông Đ đối với Công ty Tài chính Thành phố H.
[4] Tại phiên tòa:
7
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn - Bà Trần Ngọc Kim C trình bày luận cứ như sau:
a) Công ty Tài chính Thành phố H yêu cầu Công ty H1 trả toàn bộ số nợ 28.873.469.224 đồng một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Trường hợp Công ty H1 không trả được nợ thì đề nghị các thành viên có liên quan của Công ty gồm ông Châu Nhựt T1, ông Huỳnh Thiên V, ông Phạm Thành S và ông Phạm Thành L cùng liên đới chịu trách nhiệm trả toàn bộ số tiền nợ trên, bởi các lẽ sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 46 Luật doanh nghiệp 2020 (tương ứng với điều khoản 1 Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2014 và điểm b khoản 1 Điều 38 Luật doanh nghiệp 2005) quy định: “Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 47 Luật doanh nghiệp 2020”.
Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thay đổi lần thứ 10 ngày 19/04/2010 của Công ty H1 đã cung cấp, tại thời điểm ký kết Hợp đồng tín dụng ủy thác số 313/2010/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 06/08/2010 và Hợp đồng tín dụng ủy thác số 86/2011/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 09/05/2011 thì Công ty H1 đăng ký vốn điều lệ là 268.000.000.000 đồng (hai trăm sáu mươi tám tỷ đồng).
Tại Biên bản họp hội đồng thành viên ngày 29/02/2012, các thành viên của Công ty H1 gồm: Ông Châu Nhựt T1, ông Phạm Thành S, ông Huỳnh Thiên V, ông Huỳnh Hồng Đ tự xác định trách nhiệm trả dứt nợ tồn đọng chậm nhất vào cuối tháng 07/2012, tương ứng với tỷ lệ góp vốn đã đăng ký.
Đến nay các thành viên Công ty H1 vẫn không thực hiện đúng cam kết nên Công ty Tài chính Thành phố H yêu cầu các thành viên cùng liên đới chịu trách nhiệm trả toàn bộ số nợ trên.
Các thành viên Công ty H1 đã vi phạm khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 50 của Luật doanh nghiệp 2020 liên quan đến việc góp vốn:
Khoản 2 Điều 47 quy định: “2. Thành viên phải góp vốn cho công ty Đ2 và đúng loại tài sản đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp... Trong thời hạn này, thành viên có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết."
Khoản 1 Điều 50 quy định: “Góp đủ, đúng hạn số vốn đã cam kết, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 47 của Luật này”.
Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần thứ 11 ngày 02/11/2011 về thay đổi điều chỉnh số vốn điều lệ, vốn điều lệ của Công ty H1 là 68.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi phát hiện việc giảm vốn điều lệ từ 268.000.000.000 đồng xuống còn 68.000.000.000 đồng, Công ty Tài chính Thành phố H đã báo cáo với Ủy ban nhân dân Thành phố H về nội dung này. Ngày 13/02/2012, Ủy ban nhân dân Thành phố H có văn bản số 61/VP-TM-M giao Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H
8
thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty H1, mã số doanh nghiệp C3.
Vốn điều lệ thể hiện trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đăng ký thay đổi lần thứ 13 ngày 15/03/2012 và đăng ký thay đổi lần thứ 16 ngày 29/06/2017 là 268.000.000.000 đồng. Vì vậy, căn cứ vào khoản 4 Điều 47 Luật doanh nghiệp 2020 (tương ứng với khoản 4 Điều 48 Luật doanh nghiệp 2014 và khoản 2 Điều 39 Luật doanh nghiệp 2005) quy định:
“Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp của thành viên” để xác định các thành viên có liên quan của Công ty H1 cùng phải chịu trách nhiệm trả nợ.
b) Về trách nhiệm trả nợ của ông Phạm Thành S:
Mặc dù ông Phạm Thành S đã chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của ông S trong Công ty H1 cho ông Phạm Thành L nhưng ông Phạm Thành S vẫn phải chịu trách nhiệm cùng với ông Phạm Thành L đối với khoản nợ của Công ty H1 nợ Công ty Tài chính Thành phố H vì các lẽ sau:
Ông Phạm Thành S chưa góp đủ vốn điều lệ đã đăng ký.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 52 Luật doanh nghiệp 2020 (tương ứng với khoản 2 Điều 53 Luật doanh nghiệp 2014) quy định về hệ quả pháp lý sau khi chuyển nhượng vốn góp trong Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 thành viên trở lên như sau: “2. Thành viên chuyển nhượng vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với công ty T4 với phần vốn góp có liên quan cho đến khi thông tin về người mua quy định tại các điểm b, c và đ khoản 2 Điều 48 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên”.
Ngày 13/09/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đã ban hành Văn bản số 19/YC-VKS-KDTM yêu cầu xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ, nội dung văn bản có yêu cầu Công ty H1 cung cấp tài liệu, chứng cứ về việc góp vốn của các thành viên, sổ đăng ký thành viên, giấy chứng nhận phần vốn góp của các thành viên nhưng đến thời điểm hòa giải ngày 19/11/2024 và tại phiên tòa hôm nay phía Công ty TNHH H1 vẫn không cung cấp được các tài liệu này.
Tại Biên bản làm việc ngày 26/07/2022 (biên bản làm việc này được lập sau khi ông S đã ký kết Hợp đồng chuyển nhượng vốn cho ông Phạm Thành L vào ngày 22/04/2022): Ông Phạm Thành S đã xác định đồng ý sử dụng tài sản là nhà và đất tại địa chỉ: A L, Phường A, quận P của ông Phạm Thành S để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ phí, lãi tại Công ty Tài chính Thành phố H của ông Phạm Thành L.
Biên bản làm việc ngày 04/11/2022 ghi nhận ý kiến của ông Phạm Thành L như sau: “Sau khi mua lại phần vốn góp của ông Phạm Thành S tại Công ty TNHH H1, tôi đã không còn tài sản. Do đó tôi sẽ làm văn bản cam kết (có xác nhận của ông Phạm Thành S) về nghĩa vụ trả nợ phí, lãi cho Công ty Đầu tư Tài Chính Nhà nước Thành Phố H theo tỷ lệ góp vốn của ông Phạm Thành S tại Công ty TNHH H1; theo đó dùng tài sản số A L, Phường A, quận P của ông Phạm Thành S để bảo đảm (ông Phạm Thành S đã đồng ý tại Biên bản làm việc ngày 26/7/2022 với Công ty Đầu tư Tài chính Nhà
9
nước Thành Phố H) và có xác nhận đóng dấu của Công ty TNHH H1” (Biên bản làm việc này có chữ ký xác nhận của các thành viên Công ty H1 dự họp).
Tại phiên tòa hôm nay, ông Châu Nhựt T1 cũng xác nhận Công ty H1 không lập sổ đăng ký thành viên. Vì vậy, việc chuyển nhượng vốn giữa các bên chưa được ghi nhận vào Sổ đăng ký thành viên theo đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các quy định của pháp luật mà chúng tôi viện dẫn ở phần trên và qua nội dung 02 biên bản làm việc nêu trên thể hiện ông Phạm Thành S cùng ông Phạm Thành L xác định phải chịu trách nhiệm liên đới cùng các thành viên khác đối với khoản nợ của Công ty H1 đối với Công ty Tài Chính Thành phố H.
c) Đối với yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp cho Công ty Tài Chính Thành phố H:
Đối với Hợp đồng thế chấp số 67/2012/HĐTC-ĐTTC-UT ngày 20/04/2012 tại Phòng C2 Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận, bên thế chấp là ông Huỳnh Thiên V, bà Tô Hiền D, thế chấp 02 tài sản là nhà đất tại địa chỉ: 1 và 1 L, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng ủy thác số 313/2010/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 06/08/2010 và số 86/2011/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 09/05/2011.
Hợp đồng thế chấp số 68/2012/HĐTC-ĐTTC-UT ngày 20/04/2012 ký kết giữa Công ty Tài chính Thành phố H và ông Phạm Thành S. Tài sản thế chấp là nhà và đất tại địa chỉ: A (trệt, lững) L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Huỳnh Thiên V và bà Tô Hiền D thế chấp tài sản nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật.
Ông Phạm Thành S một mình ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản mà không có ý kiến hoặc ủy quyền của bà Huỳnh Mỹ P1 nhưng tại mục 6.2.1 khoản 6.2 Điều 6 của Hợp đồng thế chấp quy định về nghĩa vụ của Bên B (tức bên thế chấp): Thông báo cho bên A (tức bên nhận thế chấp là Công ty Tài chính Thành phố H) về quyền của bên thứ ba đối với tài sản thế chấp (nếu có). Bên B hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc không thông báo cho Bên A biết về quyền của bên thứ ba (nếu có).
Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận các Hợp đồng thế chấp này và Công ty Tài chính Thành phố H được quyền xử lý các tài sản thế chấp như trên trong trường hợp Công ty H1 không trả nợ.
Ngoài ra, Tòa án cũng đã thu thập được chứng cứ để xác định tài sản này ông Phạm Thành S tạo lập trước khi kết hôn với bà Huỳnh Mỹ P1 nên đối với yêu cầu độc lập của ông Phạm Thành S, bà Huỳnh Mỹ P1 về việc yêu cầu Công ty Tài chính Thành Phố H trả lại bản chính giấy tờ nhà đất trên là không đúng quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và bác toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Phạm Thành S và bà Huỳnh Mỹ P1.
Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 43/2024/KDTM-ST ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 11 đã tuyên:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H.
10
2. Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 có trách nhiệm trả cho Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H số tiền nợ là 28.873.469.224 đồng (hai mươi tám tỷ tám trăm bảy mươi ba triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn hai trăm hai mươi bốn đồng) theo Hợp đồng tín dụng ủy thác số 313/2010/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 06/8/2010 và Hợp đồng tín dụng ủy thác số 86/2011/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 09/5/2011.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền nợ trên cho Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H có đơn yêu cầu thi hành án mà Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì Công ty Trách nhiệm hữu hạH1 Huỳnh Gia Huynh Đ1 còn phải trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
3. Trường hợp đến hạn mà Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 không trả được số tiền nợ trên cho Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H thì các thành viên của Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 là ông Châu Nhựt T1, ông Huỳnh T3 và ông Phạm Thành L có trách nhiệm trả thay toàn bộ số tiền nợ 28.873.469.224 đồng cho Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H, cụ thể số tiền mỗi người phải trả như sau:
- Ông Châu Nhựt T1 trả: 10.282.469.224 đồng.
- Ông Huỳnh Thiên V trả: 10.267.000.000 đồng
- Ông Phạm Thành L trả: 8.324.000.000 đồng.
4. Không chấp nhận yêu cầu Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H về việc buộc ông Phạm Thành S có trách nhiệm liên đới trả nợ trong trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 không trả nợ.
5. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Thành S.
Buộc Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H trả lại bản chính “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở”, hồ sơ gốc 030/61-CP/2004 do Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/3/2004 đối với nhà và đất tại địa chỉ: A (trệt-lững) L, Phường A, quận P, Thành phố H (cập nhật nội dung thay đổi và tên chủ mới ngày 28/4/2004) cho ông Phạm Thành S.
6. Kiến nghị Ủy ban nhân dân Thành phố H hủy bỏ việc “Cấm xuất cảnh” đối với ông Phạm Thành S theo Quyết định số 728/QĐ-UBND ngày 13/02/2012 và Công văn số 201-VP-KT ngày 14/3/2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố H.
7. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Huỳnh Mỹ P1 về việc buộc Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H trả lại bản chính “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” đối với nhà và đất tại địa chỉ: A (trệt-lững) L, Phường A, quận P, Thành phố H cho bà Huỳnh Mỹ P1.
8. Tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về “Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ” đối với ông Phạm Thành L theo Quyết định số 01/2024/QĐ-
11
BPKCTT ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 11 cho đến khi ông Phạm Thành L hoàn tất nghĩa vụ trả nợ của mình đối với Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H.
9. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 phải chịu án phí là 136.873.469 đồng (một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm sáu mươi chín đồng).
- Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- Bà Huỳnh Mỹ P1 phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Hoàn trả lại cho Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 68.436.734 đồng (sáu mươi tám triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn bảy trăm ba mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0032524 ngày 18/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về nghĩa vụ án thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25/12/2024, Công ty Đầu tư tài chính Nhà nước Thành phố H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm do Hội đồng xét xử sơ thẩm chưa xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ nguyên đơn cung cấp trong suốt quá trình giải quyết vụ án dẫn đến bản án đã tuyên không đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Nguyên đơn đề nghị Toà án Thành phố Hồ Chí Minh sửa bản án sơ thẩm, tuyên buộc trách nhiệm liên đới của ông Phạm Thành S và ông Phạm Thành L trả thay toàn bộ số tiền nợ và lãi phát sinh. Ngoài ra, nguyên đơn còn đề nghị Toà án Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Thành S.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm với lý do đã trình bày tại đơn kháng cáo.
Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Về nội dung: Xem xét đơn khởi kiện và đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có căn cứ xác định bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn thanh toán nợ gốc là có căn cứ. Tuy nhiên, không có cơ sở để buộc ông Phạm Thành L và ông Phạm Thành S phải liên đới chịu trách nhiệm trả nợ, vì giữa ông S và ông L đã hoàn tất việc chuyển nhượng vốn góp, nay ông S không còn nghĩa vụ đối với khoản nợ này.
12
Đối với yêu cầu kháng cáo về việc bác toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Phạm Thành S, xét thấy việc thế chấp tài sản bảo đảm này không được công chứng và không đăng ký giao dịch bảo đảm là vi phạm Điều 12 Nghị định 163/NĐCP ngày 29/12/2006 và vi phạm quy định tại Điều 93 Luật nhà ở năm 2005; Điều 130 Luật đất đai năm 2003 và Điều 47 Luật công chứng năm 2006 do đó hợp đồng thế chấp này bị vô hiệu, yêu cầu độc lập của ông S là có cơ sở. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm áp dụng pháp luật sau thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp là không phù hợp do đó cần sửa phần này. Ngoài ra bản án sơ thẩm có nhận định hợp đồng thế chấp vô hiệu nhưng lại không tuyên hợp đồng vô hiệu là thiếu sót nên cần sửa cho phù hợp.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 43/2024/KDTM-ST 13 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh về việc tuyên hợp đồng vô hiệu tại phần quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì việc khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại. Bị đơn có địa chỉ tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân Quận 11 thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
Nguyên đơn kháng cáo bản án sơ thẩm nên thẩm quyền giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Tô Hiền D, bà Huỳnh Mỹ P1, ông Ngô Nhất H, bà Huỳnh Ngọc M, ông Huỳnh Du P2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử vắng mặt đối với những ông, bà nêu trên.
[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, nhận thấy:
[2.1] Tại đơn khởi kiện ngày 27/12/2023 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 11/9/2024, nguyên đơn đề nghị Toà án buộc Công ty H1 thanh toán số nợ 28.873.469.224 đồng. Trong trường hợp bị đơn không trả số nợ trên thì buộc các thành viên công ty gồm ông Châu Nhựt T1, ông Phạm Thành S và ông Phạm Thành L, ông Huỳnh Thiên V, ông Huỳnh Hồng Đ phải liên đới trách nhiệm cá nhân đối với khoản nợ của Công ty H1 tương ứng với tỷ lệ góp vốn như các bên đã cam kết tại cuộc họp hội đồng thành viên, cụ thể:
- Ông Châu Nhựt T1 chịu trách nhiệm trả nợ tương ứng với tỷ lệ góp vốn 33,650%, tương đương số tiền 9.715.922.394 đồng.
- Ông Phạm Thành S và Phạm Thành L cùng chịu trách nhiệm trả nợ tương ứng với tỷ lệ góp vốn 33,650%, tương đương số tiền 9.715.922.394 đồng.
13
- Ông Huỳnh Thiên V chịu trách nhiệm trả nợ tương ứng với tỷ lệ góp vốn 18,270%, tương đương số tiền 5.275.182.827 đồng.
- Ông Huỳnh Hồng Đ chịu trách nhiệm trả nợ tương ứng với tỷ lệ góp vốn 14,420%, tương đương số tiền 4.163.554.262 đồng.
Căn cứ các Hợp đồng tín dụng uỷ thác số 313/2010/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 06/8/2010, 86/2011/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 09/5/2011 và Bảng đối chiếu công nợ ngày 01/02/2023, có cơ sở xác định Công ty TNHH H1 còn nợ Công ty Tài chính Nhà nước Thành phố H số nợ là 28.873.469.224 đồng, trong đó gồm nợ gốc, nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn.
Biên bản xác nhận công nợ nêu trên được những người có thẩm quyền của hai công ty ký xác nhận nên có giá trị là chứng cứ để xem xét việc tranh chấp giữa các bên. Sau khi ký bảng xác nhận công nợ, nguyên đơn đã gửi văn bản số 1237/ĐTTC-QLCNVUT ngày 19/7/2023 và văn bản số 2264/ ĐTTC-QLCNVUT ngày 28/12/2023 để yêu cầu bị đơn thanh toán nợ. Tuy nhiên, cho đến nay, bị đơn vẫn chưa thanh toán hết số nợ trên cho nguyên đơn. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bị đơn phải trả toàn bộ số tiền còn nợ như trên là có căn cứ.
Ngoài yêu cầu buộc Công ty H1 thanh toán toàn bộ số nợ thì nguyên đơn còn yêu cầu các thành viên của công ty gồm ông Châu Nhựt T1, ông Phạm Thành S và ông Phạm Thành L, ông Huỳnh Thiên V phải liên đới chịu trách nhiệm cá nhân đối với khoản nợ của Công ty H1.
Công ty H1 thừa nhận hiện nay còn nợ Công ty Tài chính Thành phố H theo 02 Hợp đồng tín dụng ủy thác như trên, tính đến ngày 31/12/2022 là 28.873.469.224 đồng theo Bảng đối chiếu công nợ ngày 01/02/2023 ký kết giữa hai bên. Do ông Huỳnh Hồng Đ đã chết nên các thành viên công ty hiện nay của công ty là ông Châu Nhựt T1, ông Huỳnh Thiên V, ông Phạm Thành L đồng ý sẽ có trách nhiệm trả thay số tiền nợ trên.
Theo Biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 23/5/2024, các thành viên của công ty T5 trả số nợ trên trong trường hợp Công ty H1 không thannh toán được nợ cho nguyên đơn, cụ thể như sau:
- Ông Châu Nhựt T1 trả: 10.282.469.224 đồng.
- Ông Huỳnh Thiên V trả: 10.267.000.000 đồng.
- Ông Phạm Thành L trả: 8.324.000.000 đồng.
[2.2] Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn xác nhận không kháng cáo về số nợ 28.873.469.224 đồng mà bản án sơ thẩm buộc bị đơn phải thanh toán, nhưng kháng cáo về việc bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Phạm Thành S và ông Phạm Thành L có trách nhiệm liên đới trả số nợ 8.324.000.000 đồng. Đồng thời yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Thành S.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ các bên đương sự đã giao nộp cho thấy trên thực tế giữa ông Phạm Thành L và ông Phạm Thành S đã thực hiện chuyển nhượng
14
toàn bộ phần vốn góp của ông S tại Công ty H1 cho ông Phạm Thành L. Các thành viên trong Hội đồng thành viên đều không phản đối ông S chuyển nhượng phần vốn góp cho ông L, đồng thời cũng không phản đối tư cách thành viên của ông L tại công ty. Nguyên đơn cũng biết việc chuyển nhượng vốn góp giữa ông S và ông L. Sau khi ông S chuyển nhượng phần vốn góp sang ông L thì Công ty H1 đã đăng ký thay đổi lần thứ 17, ngày 13/5/2022 được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên với danh sách thành viên góp vốn gồm có ông Châu Nhựt T1, ông Phạm Thành L, ông Huỳnh Thiên V, ông Huỳnh Hồng Đ. (Ông Huỳnh Hồng Đ đã chết ngày 08/5/2022). Tuy nhiên, sau khi thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, bị đơn chưa thực hiện đăng ký sổ thành viên theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Việc công ty không thực hiện đăng ký sổ thành viên sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ 17 đã làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của ông L và ông S.
Căn cứ Biên bản họp Hội đồng thành viên số 27/2022/BB-HĐTV ngày 14/9/2022 về việc xử lý công nợ của ông Phạm Thành S liên quan đến Công ty H1, xét thấy nội dung biên bản đã ghi nhận ông S đã trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền từ 2 hợp đồng tín dụng uỷ thác là 15.824.249.474 đồng vào các ngày 06/9/2011, 08/3/2012, 26/3/2012, 14/02/2015, 17/5/2022; trong đó, ngày 17/5/2022 ông L đã thực hiện việc thanh toán thay ông S theo sự thoả thuận của hai bên khi chuyển nhượng góp vốn. Đối với số nợ còn lại của ông S chưa thanh toán cho nguyên đơn là 8.324.000.000 đồng, ông L tiếp tục chịu trách nhiệm trả thay ông S, căn cứ theo Điều 3 của Biên bản thoả thuận ngày 22/4/2022 về việc chuyển giao nghĩa vụ trả nợ của ông S cho ông L sau khi chuyển nhượng góp vốn. Việc Hội đồng thành viên xác định nghĩa vụ liên đới của ông L đối với khoản nợ của công ty là phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời xác nhận việc chuyển nhượng góp vốn giữa ông S và ông L.
Như vậy, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ nêu trên, thì kể từ thời điểm Công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thay đổi lần thứ 17 ngày 13/5/2022, ông Phạm Thành S không còn tham gia vào hoạt động của Công ty H1 với tư cách thành viên góp vốn và ông L là người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của thành viên góp vốn. Do đó, bản án sơ thẩm tuyên buộc ông Phạm Thành L có trách nhiệm liên đới trả nợ cho nguyên đơn là có căn cứ.
Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của ông L trình bày: Ông L xác nhận kế thừa nghĩa vụ thanh toán nợ của ông S đối với nguyên đơn, xác nhận còn nợ nguyên đơn số tiền theo tỷ lệ góp vốn mà các thành viên công ty đã thống nhất là 8.324.000.000 đồng. Ông L đề nghị nguyên đơn chấp nhận phương án trả nợ như sau: Ngay sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, ông L sẽ thanh toán 3.000.000.000 đồng, số tiền còn lại là 5.324.000.000 đồng ông L đề nghị được tiếp tục thanh toán trong thời hạn 24 tháng. Tuy nhiên nguyên đơn không chấp nhận trình bày về phương án trả nợ của ông L. Hội đồng xét xử ghi nhận thiện chí của ông L về phương án trả nợ cho nguyên đơn như đã nêu trên.
Ông Châu Nhựt T1 và ông Huỳnh Thiên V cũng đề nghị nguyên đơn đồng ý cho ông T1 và ông V thanh toán nợ gốc và được miễn thanh toán lãi nhưng không được nguyên đơn chấp nhận.
[2.3] Theo quy định tại Điều 4 của Hợp đồng tín dụng uỷ thác số
15
313/2010/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 06/8/2010 và hợp đồng tín dụng uỷ thác số 86/2011/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 09/5/2011 quy định về bảo đảm tiền vay như sau: “cho vay không thế chấp tài sản (theo Quyết định số 1666/QĐ-UBND ngày 31/3/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố)”. Tuy nhiên, trong quá trình vay, giữa ông Phạm Thành S và ông Huỳnh Thiên V đã ký các hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho việc trả nợ của Công ty H1, cụ thể như sau:
- Hợp đồng thế chấp số 67/2012/HĐTC-ĐTTC-UT ngày 20/04/2012 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận, bên thế chấp là ông Huỳnh Thiên V, bà Tô Hiền D, thế chấp 02 tài sản là nhà đất tại địa chỉ: 1 và 1 L, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng ủy thác số 313/2010/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 06/08/2010 và số 86/2011/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 09/05/2011.
- Hợp đồng thế chấp số 68/2012/HĐTC-ĐTTC-UT ngày 20/04/2012 ký kết giữa Công ty Tài chính Thành phố H và ông Phạm Thành S. Tài sản thế chấp là nhà và đất tại địa chỉ: A (trệt, lững) L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở số 030/61-CP/2004 ngày 11/3/2004. Mục đích bảo đảm một phần nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Hợp đồng tín dụng uỷ thác 313/2010/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 06/8/2010 và 86/2011/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 09/5/2011 theo tỷ lệ góp vốn của ông S trong Công ty H1 là 33,65% bao gồm nợ gốc, lãi vay, lãi phạt quá hạn và các khoản chi phí khác theo quy định của Điều 1 của hợp đồng tín dụng; giá trị tạm tính của tài sản thế chấp là 1.325.664.000 đồng.
Tại các phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm, nguyên đơn xác định tại đơn khởi kiện và đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn không yêu cầu về việc xử lý đối với các tài sản thế chấp. Việc trình bày yêu cầu xử lý tài sản thế chấp tại phiên toà như trên chỉ là ý kiến trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
[2.4] Ngày 16/7/2024, ông Phạm Thành S có đơn yêu cầu độc lập và đề nghị nguyên đơn phải trả lại tài sản thế chấp do hợp đồng thế chấp không được công chứng theo quy định của pháp luật nên bị vô hiệu.
Tại biên bản làm việc ngày 26/7/2022 giữa các thành viên Công ty H1 và nguyên đơn, ông S đã đồng ý sử dụng tài sản là căn nhà 114 L để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của ông L nhưng tại đơn khởi kiện nguyên đơn không yêu cầu xử lý đối với tài sản này. Theo Hợp đồng thế chấp số 68/2012/HĐTC-ĐTTC-UT ngày 20/4/2012 thì ông S đã dùng tài sản này để đảm bảo một phần nghĩa vụ trả nợ theo tỷ lệ góp vốn của ông S. Hợp đồng được ký kết giữa các bên và không được công chứng. Trong suốt thời gian từ năm 2012 kể từ khi lập hợp đồng thế chấp, các bên vẫn không tiếp tục thực hiện hoàn tất thủ tục thế chấp là công chứng hợp đồng và đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tài sản thế chấp.
Căn cứ theo quy định tại Điều 93 Luật Nhà ở năm 2005, Điều 130 Luật Đất đai 2003, Điều 47 Luật công chứng 2006 và Điều 12 Nghị định 163/NĐCP ngày 29/12/2006 thì việc thế chấp tài sản phải được thực hiện công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm. Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ và sự thừa nhận của nguyên đơn
16
thì Hội đồng xét xử có cơ sở xác định hợp đồng thế chấp số 68/2012/HĐTC-ĐTTC-UT bị vô hiệu.
Căn cứ Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng bị vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của ông Phạm Thành S yêu cầu xác định hợp đồng thế chấp số 68/2012/HĐTC-ĐTTC-UT vô hiệu. Nguyên đơn không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đồng thời không đồng ý với yêu cầu về việc tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu. Ngoài ra, các bên không trình bày yêu cầu khác về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Bản án sơ thẩm có căn cứ khi nhận định hợp đồng thế chấp 68/2012/HĐTC-ĐTTC-UT vi phạm các quy định của pháp luật nên bị vô hiệu, tuyên buộc nguyên đơn phải trả lại bản chính giấy tờ nhà đất tại địa chỉ A L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cho chủ sở hữu tài sản là ông Phạm Thành S. Tuy nhiên, tại phần quyết định của bản án không xác định hợp đồng thế chấp bị vô hiệu mà chỉ tuyên buộc nguyên đơn trả lại bản chính giấy tờ tài sản thế chấp là có thiếu sót nhưng không cần thiết phải huỷ bản án sơ thẩm.
[2.5] Xét thấy tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn nộp thêm các chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo về yêu cầu buộc ông Phạm Thành S phải liên đới trách nhiệm với ông Phạm Thành L trả nợ thay cho Công ty H1. Qua xem xét các chứng cứ và xác nhận của nguyên đơn tại phiên toà, thì trong hợp đồng tín dụng ủy thác giữa các bên không quy định buộc các thành viên của công ty phải liên đới chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp bị đơn không thanh toán được số tiền còn nợ. Việc các thành viên cam kết chịu trách nhiệm liên đới thanh toán nợ theo các biên bản họp Hội đồng thành viên là do sự tự nguyện của các thành viên. Tại phiên toà, các thành viên công ty gồm ông T1, ông V và ông L đều không phản đối trách nhiệm liên đới trả thay khoản nợ cho Công ty H1, cùng thống nhất trả cho nguyên đơn số nợ theo tỷ lệ góp vốn mà các thành viên đã thoả thuận.
[2.6] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp diễn biến vụ án tại phiên toà và nhận định của Hội đồng xét xử, do đó chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
[2.7] Người đại diện theo uỷ quyền của ông Phạm Thành S tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm kiến nghị Ủy ban nhân dân Thành phố H huỷ bỏ việc cấm xuất cảnh đối với ông S theo Quyết định số 728/QĐ-UBND ngày 13/02/2012 và Công văn số 201-VP-KT ngày 14/3/2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố H. Hội đồng xét xử ghi nhận và kiến nghị Ủy ban nhân dân Thành phố H hủy bỏ việc “Cấm xuất cảnh” đối với ông Phạm Thành S theo Quyết định số 728/QĐ-UBND ngày 13/02/2012 và Công văn số 201-VP-KT ngày 14/3/2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố H.
[2.8] Duy trì Quyết định số 01/2024/QĐ-BPKCTT ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 11, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về “Cấm xuất
17
cảnh đối với người có nghĩa vụ” đối với ông Phạm Thành L theo Quyết định số 01/2024/QĐ-BPKCTT ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 11 cho đến khi ông Phạm Thành L hoàn tất nghĩa vụ trả nợ của mình đối với Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H.
[3]. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
[3.1] Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Thành S nhưng không tuyên hoàn trả án phí cho ông S, do đó, Hội đồng xét xử điều chỉnh về án phí sơ thẩm.
[3.2] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H.
Sửa một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 43/2024/KDTM-ST ngày 13/12/2024 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Áp dụng Điều 30, Điều 38, Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 46 Luật Doanh nghiệp; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H.
[2] Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 có trách nhiệm trả cho Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H số tiền nợ là 28.873.469.224 đồng (hai mươi tám tỷ tám trăm bảy mươi ba triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn hai trăm hai mươi bốn đồng) theo Hợp đồng tín dụng ủy thác số 313/2010/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 06/8/2010 và Hợp đồng tín dụng ủy thác số 86/2011/HĐTD-ĐTTC-UT ngày 09/5/2011.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền nợ trên cho Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H có đơn yêu cầu thi hành án mà Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì Công ty Trách nhiệm hữu hạH1 Huỳnh Gia Huynh Đ1 còn phải trả tiền lãi trên số tiền
18
chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[3] Trường hợp đến hạn mà Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 không trả được số tiền nợ trên cho Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H thì các thành viên của Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 là ông Châu Nhựt T1, ông Huỳnh T3 và ông Phạm Thành L có trách nhiệm trả thay toàn bộ số tiền nợ 28.873.469.224 đồng cho Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H, cụ thể số tiền mỗi người phải trả như sau:
- Ông Châu Nhựt T1 trả: 10.282.469.224 đồng.
- Ông Huỳnh Thiên V trả: 10.267.000.000 đồng.
- Ông Phạm Thành L trả: 8.324.000.000 đồng.
[4] Không chấp nhận yêu cầu của Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H về việc buộc ông Phạm Thành S có trách nhiệm liên đới trả nợ trong trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 không trả nợ.
[5] Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Thành S. Tuyên bố Hợp đồng thế chấp số 68/2012/HĐTC-ĐTTC-UT ngày 20/4/2012 ký kết giữa Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H và ông Phạm Thành S vô hiệu.
Buộc Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H trả lại bản chính “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở”, hồ sơ gốc 030/61-CP/2004 do Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/3/2004 đối với nhà và đất tại địa chỉ: A (trệt-lững) L, Phường A, quận P, Thành phố H (cập nhật nội dung thay đổi và tên chủ mới ngày 28/4/2004) cho ông Phạm Thành S.
[6] Kiến nghị Ủy ban nhân dân Thành phố H hủy bỏ việc “Cấm xuất cảnh” đối với ông Phạm Thành S theo Quyết định số 728/QĐ-UBND ngày 13/02/2012 và Công văn số 201-VP-KT ngày 14/3/2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố H.
[7] Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Huỳnh Mỹ P1 về việc buộc Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H trả lại bản chính “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” đối với nhà và đất tại địa chỉ: A (trệt-lững) L, Phường A, quận P, Thành phố H cho bà Huỳnh Mỹ P1.
[8] Tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về “Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ” đối với ông Phạm Thành L theo Quyết định số 01/2024/QĐ-BPKCTT ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 11 cho đến khi ông Phạm Thành L hoàn tất nghĩa vụ trả nợ của mình đối với Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H.
[9] Về án phí:
[9.1] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 phải chịu án phí là 136.873.469 đồng (một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm sáu mươi chín đồng).
19
- Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- Bà Huỳnh Mỹ P1 phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0023259 ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, nay không phải nộp thêm.
- Hoàn trả cho Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 68.436.734 đồng (sáu mươi tám triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn bảy trăm ba mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0032524 ngày 18/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn trả cho ông Phạm Thành S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0023258 ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
[9.2] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố H không phải chịu án phí phúc thẩm, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 2.000.000 (hai triệu) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0050393 ngày 06/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Đoan Trang |
20
Bản án số 160/2025/KDTM-PT ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 160/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu
