TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK Bản án số: 160/2025/HS-ST Ngày: 26/6/2025 | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Đôn. `
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Chính, bà Phạm Thị Tuyết Nhung
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bình – Thư ký Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa:
Ông Y Khang Êban - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 155/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 06 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 06 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Công T: Tên gọi khác: Không, Giới tính: Nam. Sinh ngày 15 tháng 01 năm 2000; tại: Tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Số B C, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe.
Họ và tên cha: Nguyễn Công T1, sinh năm 1960; họ và tên mẹ: Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1971. Bị cáo sống với nhau như vợ chồng với chị Võ Thị Hồng Á, sinh năm 2005. Có 01 con, sinh năm: 2024.
Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11 tháng 02 năm 2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1982. Trú tại: Tổ dân phố C, phường T, Tp ., tỉnh Đắk lắk. vắng mặt
2/ Bà Võ Thị Hồng Á, sinh năm 2005, sinh năm 1982. Trú tại: Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk lắk. Có đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài vào dịp Tết Nguyên đán năm 2025, Nguyễn Công T đã nảy sinh ý định mua pháo nổ về bán kiếm lời. Thời gian cuối tháng 10 năm 2024, T vào mạng xã hội Facebook và sử dụng thuê bao không chính chủ (sim rác) liên lạc, thoả thuận mua bán pháo nổ với một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch). T thống nhất với người đàn ông này T sẽ mua 11 hộp pháo hoa nổ thường gọi là pháo 49 với giá 700.000 đồng/01 hộp và 17 bịch pháo nổ thường gọi là pháo bị với giá 400.000 đồng/01 bịch, địa điểm mua bán pháo nổ tại khu vực Bến xe khách Q thuộc thành phố Q, tỉnh Bình Định. Sau đó, T đi xe khách đến khu vực Bên xe khách Quy Nhơn rồi liên lạc với người đàn ông bán pháo nổ thì có một người đàn ông điều khiển xe mô tô chở theo 01 thùng xốp đã dán kín đến giao cho T, rồi T đưa cho người này số tiền 15.000.000 đồng. T đón xe khách đưa số pháo nổ mua được về thành phố B, tỉnh Đắk Lắk rồi đem cất giấu tại căn nhà ở địa chỉ số D đường Y, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Để bán được pháo nổ, qua các mối quan hệ ngoài xã hội tại địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, T đã đưa ra thông tin có nguồn pháo hoa nổ bán với giá 1.400.000 đồng/01 hộp và pháo nổ với giá 800.000 đồng/01 bịch. T sử dụng một số điện thoại không chính chủ để người có nhu cầu mua pháo nổ liên hệ.
Vào khoảng 20 giờ ngày 31 tháng 12 năm 2024, trong lúc ăn tối tại vỉa hè trên đường P giao với đường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. T nghe 02 người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch), ngồi ở bàn bên cạnh nói chuyện với nhau và có nhu cầu mua pháo nổ, nên T đã sang nói chuyện và xin số điện thoại để liên lạc trao đổi mua bán pháo nổ. Khi về nhà, T2 gọi điện thoại cho người thanh niên thống nhất mua bán 02 hộp pháo hoa nổ và 01 bịch pháo nổ, địa điểm mua bán pháo nổ tại khu vực cuối đường Y, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 01 giờ ngày 01 tháng 01 năm 2025, T lấy 02 hộp pháo hoa nổ và 01 bịch pháo nổ đựng trong 01 túi vải màu đen rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47AT-39.65, nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ - đen đi đến điểm hẹn. Khi T đang lưu thông trên đường Y, thành phố B, thì bị lực lượng tuần tra Cảnh sát giao thông Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk phát hiện. Quá trình làm việc, T đã tự nguyện giao nộp số pháo nổ đang cất giấu tại nhà gồm 09 hộp pháo hoa nổ và 16 bịch pháo nổ.
* Tại Kết luận giám định số 106/KL-KTHS ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh G, kết luận:
- 02 (hai) hộp giấy kín, bên ngoài mỗi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ "KS4-4911-BILLION TIME-49 SHOTS", bên trong mỗi hộp đều có 49 (bốn mươi chín) vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau, đựng trong 01 (một) túi vải màu đen chuyển đến giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 3,4 kg.
- 01 (một) bì nilon trong suốt, bên trong có 100 (một trăm) vật hình cầu bằng nhựa, đường kính 2,5cm, đều có gắn đoạn dây màu xanh, đựng trong 01 (một) túi vải màu đen chuyển đến giám định đều là pháo nổ, tổng khối lượng 0,4 kg.
- 09 (chín) hộp giấy kín, bên ngoài mỗi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911-BILLION TIME-49 SHOTS", bên trong mỗi hộp đều có 49 (bốn mươi chín) vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau, đựng trong 01 (một) bao tải (bao xác rắn) màu xanh chuyển đến giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 15,3 kg.
- 15 (mười lăm) bì nilon, bên trong mỗi bị có 100 (một trăm) vật hình cầu bằng nhựa, đường kính 2,5cm và 01 (một) bì nilon trong suốt, bên trong có 60 (sáu mươi) vật hình cầu bằng nhựa, đường kính 2,5cm, đều có gắn đoạn dây màu xanh, dựng trong 01 (một) bao tải (bao xác răn) màu xanh chuyển đến giám định đều là pháo nổ, tổng khối lượng 6,9 kg. (BL 27-28)
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 (một) túi vải màu đen bên trong gồm 02 hộp giấy kín, bên ngoài mỗi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911 - BILLION TIME - 49 SHOTS". 01 (một) bì nilon trong suốt bên trong có 100 (một trăm) vật hình cầu bằng nhựa, có đường kính 2,5cm, đều có gắn đoạn dây màu xanh. 01 (một) bao xác rắn màu xanh bên trong gồm 09 (chín) hộp giấy kín, bên ngoài mỗi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911 - BILLION TIME-49 SHOTS", bên trong mỗi hộp đều có 49 (bốn mươi chín) vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau. 15 (mười lăm) bì nilon trong suốt, bên trong mỗi bị có 100 (một trăm) vật hình cầu bằng nhựa, có đường kính 2,5cm và 01 (một) bì nilon trong suốt bên trong có 60 (sáu mươi) vật hình cầu bằng nhựa, có đường kính 2,5cm, đều có gắn đoạn dây màu xanh. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, số Imei 1: 350335892113685, số Imei 2: 350335892113693, gắn sim thuê bao số 0921.760.034 đã qua sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 155/CT-VKSTP.BMT ngày 02/06/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Công T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo.
Quá trình tranh luận Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, trình bày quan điểm luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Công T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm đến 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đề nghị tịch thu tiêu huỷ đối với 17 kg pháo nổ còn lại sau giám định gồm: 07 hộp giấy bên ngoài mỗi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911 - BILLION TIME - 49 SHOTS" có tổng khối lượng 11,9 kg; 11 bì nilon trong suốt bên trong mỗi bì có 100 vật hình cầu bằng nhựa và 01 bì nilon trong suốt bên trong có 60 vật hình cầu bằng nhựa có tổng khối lượng 5,1 kg. Vỏ bao gói (01 túi vải màu đen), tất cả được niêm phong trong một bao tải (bao xác rắn) màu xanh, có các dấu hình tròn nội dung “PHÒNG KỸ TH THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH GIA LAI" và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T3, Nguyễn Thành L1 và Trần Ngọc Anh T4, là các vật chứng của vụ án.
Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, số Imei 1: 350335892113685, số Imei 2: 350335892113693, gắn sim thuê bao số 0921.760.034, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Công T đã sử dụng làm phương tiện phạm tội.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét lời khai của bị cáo, phù hợp lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào cuối năm 2024 Nguyễn Công T đã mua 11 hộp pháo hoa nổ; 17 bịch pháo nổ của một người đàn ông (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), tại thành phố Q, tỉnh Bình Định, rồi đem về cất giấu tại căn nhà ở địa chỉ số D đường Y, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để bán lại kiếm lời. Vào khoảng 01 giờ ngày 01 tháng 01 năm 2025, khi Nguyễn Công T đang vận chuyển 3,4 kg pháo hoa nổ và 0,4 kg pháo nổ đi bán cho một người đàn ông (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) tại khu vực cuối đường Y, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì bị phát hiện xử lý. Cơ quan điều tra thu giữ thêm 15,3 kg pháo hoa nổ và 6,9 kg pháo nổ mà T đang cất giấu tại nhà.
Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Công T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS.
[3] Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Công T5 tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 190 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về buôn bán những mặt hàng bị cấm, gây mất trật tự trị an trên địa bàn địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi buôn bán hàng cấm là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị, nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi và muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý phạm tội. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần có mức hình phạt đủ nghiêm đối với bị cáo mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Công T6 đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bố bị cáo tham gia Cách mạng đương tặng thương huân chương Chiến công hạng nhì, huân chương bảo vệ tổ quốc hạng ba nên bị cáo được hưởng tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Công T là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[5]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 46,48 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với 17 kg pháo nổ còn lại sau giám định gồm: 07 hộp giấy bên ngoài mỗi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911 - BILLION TIME - 49 SHOTS" có tổng khối lượng 11,9 kg; 11 bì nilon trong suốt bên trong mỗi bì có 100 vật hình cầu bằng nhựa và 01 bì nilon trong suốt bên trong có 60 vật hình cầu bằng nhựa có tổng khối lượng 5,1 kg. Vỏ bao gói (01 túi vải màu đen), tất cả được niêm phong trong một bao tải (bao xác rắn) màu xanh, có các dấu hình tròn nội dung “PHÒNG KỸ TH THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH GIA LAI" và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T3, Nguyễn Thành L1 và Trần Ngọc Anh T4, là các vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhân hiệu Masstel, màu đen, số Imei 1: 350335892113685, số Imei 2: 350335892113693, gắn sim thuê bao số 0921.760.034, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Công T đã sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[6]. Trong vụ án này, đối với căn nhà tại địa chỉ số D Y, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, là địa điểm mà bị cáo Nguyễn Công T đã cất giấu pháo. Qua điều tra xác định căn nhà trên thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 16 tháng 10 năm 2024, bà L cho bị cáo T thuê căn nhà trên để ở. Việc bị cáo T2 sử dụng căn nhà trên để cất giấu pháo, thì bà L không biết và không đồng ý. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử đối với bà L và căn nhà trên là phù hợp.
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 47AT-039.65, màu sơn đỏ-đen, số máy KF08E5003180KTGE1, số khung RLHKF1107AY003122, mà bị cáo Nguyễn Công T đã sử dụng làm phương tiện phạm tội. Qua điều tra xác định chiếc xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu của Võ Thị Hồng Á, sinh năm 2005, trú tại tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (là người chung sống như vợ chồng với T). Ánh đã giao chiếc xe mô tô trên cho T để làm phương tiện đi lại. Việc T2 sử dụng làm phương tiện phạm tội, thì chị Á không biết và không đồng ý. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Á và chiếc xe mô tô trên là phù hợp.
Đối với người đàn ông đã bán pháo cho Nguyễn Công T và người đàn ông đã đặt mua pháo của Nguyễn Công T. Do đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch và chưa làm việc được. Nên Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp.
[7]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, Tp., tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Công T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Công T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 46, 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bao tải (bao xác rắn) màu xanh, được niêm phong có các dấu hình tròn nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH GIA LAI và có các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T3, Nguyễn Thành L1 và Trần Ngọc Anh T4. Bên trong có 07 (bảy) hộp giấy, bên ngoài mỗi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911-BILLION – 49 SHOTS", tổng khối lượng 11,9 kg; 11 (mười một) bì ni lon trong suốt, bên trong mỗi bì có 100 (một trăm) vật hình cầu bằng nhựa và 01 (một) bì ni lon trong suốt bên trong có 60 (sáu mươi) vật hình cầu bằng nhựa, tổng khối lượng 5,1 kg; vỏ bao gói (01 túi vải màu đen).
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Mastel, màu đen, số IMΕΙ 1 350335892113685, số IMEI 2 350335892113693 có gắn sim (mặt sau có dãy số 8984050924, 1419898738), được niêm phong có dấu hình tròn nội dung “CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA – CÔNG AN TP BUÔN MA THUỘT” và các -chữ ký ghi họ tên Nguyễn Công T, Đặng Huy H1 và Trần Ngọc Anh T4.
(Đặc điểm vật chứng như trong biên bản bàn giao vật chứng tại chi cục Thi hành án dân sự ngày 25/6/2025)
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Công T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trần Đôn |
Bản án số 160/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT về hình sự - buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 160/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công Thắng bị truy tố tội Mua bán hàng cấm theo K1 Điều 190 BLHS
