TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 160/2025/HS-ST Ngày 26-6-2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh
- + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch và ông Đinh Ngọc Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Đặng Hữu L, sinh ngày 01/01/1980 tại Cần Thơ. Nơi đăng ký thường trú: Ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Nơi ở hiện nay: Ấp E, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độc học vấn: 02/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đặng Hữu H (đã chết) và bà Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1964. Vợ Phạm Thị Ú, sinh năm 1979 có 02 con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 16/8/2000 bị Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Hiếp dâm”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 21/3/2002; Ngày 12/4/2019 bị Công an huyện P, thành phố Cần Thơ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 15262 do có hành vi đánh bạc số tiền 1.500.000 đồng, chưa nộp phạt xong. Bị giam giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 01/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn. (Có mặt).
Bị hại: Chị Chu Thị M, sinh năm 1989. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp F, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người làm chứng: Chị Nông Thị L1, sinh năm 1990. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 8 giờ ngày 23/12/2024 Đặng Hữu L điều khiển xe mô tô Cup 50 đã cũ (không xác định được biển kiểm soát) đến tiệm cắt tóc “Quỳnh Lưu” ở tại ấp H, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai do chị Nông Thị L1 làm chủ để cắt tóc. Khi đến nơi L dựng xe mô tô của mình ngay cạnh xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 37P1- 091.85 của Chu Thị M để vào cắt tóc thì chị L1 nói L đứng ngoài đợi một lát, để dọn dẹp cửa tiệm xong sẽ cắt tóc cho L. L đứng đợi ở ngoài sân gần xe mô tô của chị M, L nhìn thấy chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 của chị M đang để ở phía trước cổ xe mô tô biển số 37P1- 091.85 nên L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại của chị M. Lợi dụng lúc chị M không để ý, L lấy trộm chiếc điện thoại di động của chị M bỏ vào túi quần của mình, sau đó L lấy cớ quên ví tiền ở nhà và nói với chị L1 là để L về nhà lấy tiền sau đó sẽ quay lại cắt tóc. Sau đó L điều khiển xe mô tô chạy về nhà thuê của mình tại ấp H, xã G, huyện T, L cất chiếc điện thoại di động đã trộm cắp được vào một túi nilon rồi treo trong nhà vệ sinh cất giấu,
Đến buổi trưa cùng ngày L đem chiếc điện thoại di động trộm cắp của chị M đến tiệm cầm đồ “Công Tịnh” ấp H, xã G, huyện T do anh Lê Công T làm chủ để cầm cố chiếc điện thoại, tuy nhiên do L không mở được mật khẩu nên anh T từ chối cầm chiếc điện thoại nên L đem chiếc điện thoại về nhà và tiếp tục cất giấu vào trong nhà vệ sinh.
Sau khi bị mất tài sản, chị M đã cùng với chị Lưu T1 xuất camera tại tiệm cắt tóc “Quỳnh Lưu” phát hiện L là người đã lấy chiếc điện thoại di động của chị M nên chị M đã đến Công an xã G trình báo.
Công an xã G đã tiến hành thu giữ tại nhà thuê của L 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 có phần ốp lưng bên trong có 01 tờ tiền ngoại tệ mệnh giá 01 USD. Công an xã G đã lập hồ sơ ban đầu và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá tài sản số 136/KL-HĐĐGTS ngày 30/12/2024 và số 23/KL-HĐĐGTS ngày 20/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện T thì: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, số máy NHDG3VN/A, số sê-ri DX3GPEXRN73C, màu xanh đã qua sử dụng trị giá là 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng); 01 tờ ngoại tệ USD mệnh giá ONE DOLLAR số L12679133E trị giá là 25.290 đồng (Hai mươi lăm nghìn hai trăm chín mươi đồng)
Tại bản Cáo trạng số 141/CT-VKS-TB ngày 13/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Đặng Hữu L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt Đặng Hữu L từ 08 (tám) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án chứng cứ là 01 USB lưu trữ hình ảnh được trích xuất từ camera tại tiệm cắt tóc “Quỳnh Lưu”. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 và 01 tờ ngoại tệ mệnh giá 01 DOLLAR là tài sản hợp pháp của chị M, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị M là đúng quy định của pháp luật. Đối với chiếc xe mô tô Cub 50 đã cũ, không rõ biển kiểm soát do Đặng Hữu L mượn của bà Nguyễn Thị Đ1, địa chỉ: thôn D, ấp T, xã B, huyện T để làm phương tiện đi lại sau đó tự ý sử dụng vào việc phạm tội. Sau khi L trả xe cho bà Đ1, bà Đ1 đã bán chiếc xe mô tô Cub 50 trên cho 01 người đàn ông không rõ nhân thân làm nghề mua phế liệu (ve chai) dạo trên tuyến đường B- G vì vậy Cơ quan điều tra không thu hồi và xử lý được. Về dân sự: Chị M đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Đối với sự vắng mặt của bị hại, người làm chứng tại phiên toà: Xét thấy, bị hại, người làm chứng đã có lời khai ở Cơ quan điều tra và việc vắng mặt của bị hại, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Nên căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại, người làm chứng.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án. Qua đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Vào ngày 23/12/2024 tại tiệm cắt tóc “Quỳnh Lưu” thuộc ấp H, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Đặng Hữu L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 và 01 tờ ngoại tệ mệnh giá 01 DOLLAR có tổng giá trị là 6.525.290 đồng (Sáu triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn, hai trăm chín mươi đồng) của chị Chu Thị M. Hành vi nêu trên của Đặng Hữu L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng có nhân thân xấu vì đã từng bị kết án và đã bị xử phạt hành chính nhưng chưa nộp phạt.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] 01 USB lưu trữ hình ảnh được trích xuất từ camera tại tiệm cắt tóc “Quỳnh Lưu” là chứng cứ nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
[5.2] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 và 01 tờ ngoại tệ mệnh giá 01 DOLLAR là tài sản hợp pháp của chị M, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị M là đúng quy định của pháp luật.
[5.3] Đối với chiếc xe mô tô Cub 50 đã cũ, không rõ biển kiểm soát do Đặng Hữu L mượn của bà Nguyễn Thị Đ1, địa chỉ: thôn D, ấp T, xã B, huyện T để làm phương tiện đi lại sau đó tự ý sử dụng vào việc phạm tội. Sau khi L trả xe cho bà Đ1, bà Đ1 đã bán chiếc xe mô tô Cub 50 trên cho 01 người đàn ông không rõ nhân thân làm nghề mua phế liệu (ve chai) dạo trên tuyến đường B- G vì vậy Cơ quan điều tra không thu hồi và xử lý được.
[6] Về dân sự: Chị M đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự nên không xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
- - Tuyên bố bị cáo Đặng Hữu L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Đặng Hữu L 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian giam giữ trước đó (từ ngày 23/12/2024 đến ngày 01/01/2025).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đặng Hữu L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, bị hại chị Chu Thị M có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
Mẫu 27-HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |
Bản án số 160/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 160/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đặng Hữu L phạm tội Trộm cắp tài sản
