|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
Bản án số:160/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/6/2025
V/v Ly hôn
giữa anh Tùng, chị Lan
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;
Ông Lưu Văn Đê.
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tuấn Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huê – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 81/2025/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 04 năm 2025 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2025/QĐST – HNGĐ, ngày 12 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội, “vắng mặt có đơn xin vắng mặt”.
- Bị đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, “vắng mặt”.
- Người làm chứng: Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1949; địa chỉ: Xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, “vắng mặt có ý kiến xin vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 10 tháng 4 năm 2025 và quá trình tổ tụng tại Toà án anh Nguyễn Đức T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đức T và Phạm Thị L kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 19/12/2017. Sau khi kết hôn, anh T và chị L chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm lối sống khác nhau nên trong cuộc sống phát sinh mâu thuẫn cãi chửi nhau. Vợ chồng chị đã sống ly thân năm 2018 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh T làm đơn xin được ly hôn chị L.
Về con chung: Anh T và chị L không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng: Anh T và chị L không có tài sản chung, không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản làm việc ngày 08/5/2025 với ông Phạm Văn T1 là bố đẻ của chị L thì ông T1 có lời khai phù hợp với lời khai của anh T về quá trình tìm hiểu, kết hôn, chung sống. Còn về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị L là gì thì ông không biết. Về con chung: Ông T1 xác nhận vợ chồng anh T, chị L không có con chung như anh T trình bày là đúng.Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung: Ông T1 xác nhận vợ chồng anh T, chị L không có tài sản chung, không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự căn cứ Điều 21, Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phám và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Đức T và chị Phạm Thị L. Về con chung; về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Đức T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Phạm Thị L vắng mặt, người làm chứng ông Phạm Văn T1 có ý kiến xin vắng mặt trong bản tự khai. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh T, chị L, ông T1 là phù hợp.
[2] Về hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Đức T và chị Phạm Thị L là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được UBND phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội đăng ký kết hôn ngày 19/12/2017. Trong cuộc sống vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn nên từ năm 2018 đến nay, hai người đã sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm đối với nhau. Nay anh T yêu cầu xin được ly hôn chị L.
Chị L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật các văn bản tố tụng về việc anh T xin ly hôn chị L, tuy nhiên chị L không có ý kiến gửi Tòa án ý kiến của mình và các tài liệu, chứng cứ có liên quan. Tại phiên Tòa chị L vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Đức T thì thấy: Sau khi kết hôn, trong cuộc sống vợ chồng do tính tình không hợp quan điểm lối sống khác nhau nên phát sinh mâu thuẫn. Đến nay anh T và chị L có thời gian sống ly thân đã lâu, nhưng cả hai người không có biện pháp nào để vợ chồng về chung sống đoàn tụ. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Anh T và chị L xác nhận không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng: Anh T và chị L không yêu cầu Tòa án giải nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Anh Nguyễn Đức T phải nộp án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Đức T và chị Phạm Thi L1.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Nguyễn Đức T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0000414 ngày 10/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; anh T đã nộp đủ án phí.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 160/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 160/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
