|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 160/2024/HSST
Ngày 21 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tài;
- Ông Đinh Bảo Quốc.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Dũng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 182/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Ngọc H, tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 14/7/2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: số A đường Đ, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Nhà số A đường Đ, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: giao hàng; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; con ông Trần Văn P và bà Trương Thị B, chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không. Tạm giam từ ngày 15/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1963; địa chỉ: 3 N, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có đơn xin vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Lục K - chủ cửa hàng Đ; địa chỉ: số E đường X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
- Ông Trương Văn T, sinh năm 1993; địa chỉ: Nhà số H đường X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh
(có đơn xin vắng mặt)
(có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Ngọc H làm nhân viên giao hàng Shopee. Khoảng 12 giờ ngày 10/11/2023, sau khi hết ca giao hàng Shopee xong thì H điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xanh, biển số 50Y1- 019.56 về nhà, khi lưu thông trên đường N, Phường E, quận B, H phát hiện bà Nguyễn Thị H1 đi bộ tại trước hẻm S đường N, Phường E, quận B, trên vai phải bà H1 có đeo 01 túi xách màu đen nên nảy sinh ý định cướp giật tài sản nhằm lấy tiền tiêu xài. H điều khiển xe chạy từ phía sau lưng bà H1 lên, áp sát bên phải bà H1 rồi dùng tay trái giật túi xách mà bà H1 đang đeo trên vai phải rồi tăng ga tẩu thoát. Sau khi cướp giật túi xách của bà H1, H chạy về nhà tại địa chỉ số A đường Đ, Phường C, quận B kiểm tra túi xách vừa giật được thì thấy 01 điện thoại Iphone 14 màu trắng, 01 ví màu đen bên trong ví có 1.800.000 đồng tiền mặt, một số đồ trang điểm và giấy tờ cá nhân (bị hại H1 khai gồm: 01 ví đựng mỹ phẩm có 3 - 4 cây son môi không rõ nhãn hiệu, không có hóa đơn; 01 ví da không rõ hiệu, không có hóa đơn; 01 thẻ bảo hiểm Bảo Việt; 01 thẻ bảo hiểm bệnh viện T2; 01 khăn quàng cổ bằng vải không rõ nhãn hiệu, không có hóa đơn; 01 xâu chìa khóa; 01 mắt kính hiệu Chopad, không có hóa đơn). H lấy điện thoại Iphone 14 và 1.800.000 đồng tiền mặt rồi vứt tất cả đồ vật khác vào sọt rác ở gần nhà. Đến khoảng 12 giờ ngày 11/11/2023, H tìm trên mạng cửa hàng điện thoại di động gần nhà thì tìm được số điện thoại 0987.304.xxx của cửa hàng điện thoại Minh T1, địa chỉ số E đường X, Phường B, quận B. H gọi vào số điện thoại trên thì gặp ông Nguyễn Lục K, H nói có điện thoại Iphone 14 của người nhà cần bán thì K nói H đem điện thoại đến cửa hàng điện thoại Minh T1, địa chỉ số E đường X, Phường B, quận B để Ký kiểm tra. Thấy máy bị khóa mật khẩu nên Ký hỏi H nguồn gốc điện thoại do đâu mà có thì H nói điện thoại của người nhà nhưng quên mật khẩu, không sử dụng được nên cho H, H không nói cho Ký biết điện thoại Iphone 14 do H cướp giật mà có. Do máy bị khóa mật khẩu màn hình, không chắc có mở khóa được hay không nên Ký mua điện thoại trên với giá 4.000.000 đồng thì Hòa đồng Ý bán, K nhận điện thoại và đưa 4.000.000 đồng tiền mặt cho H. Số tiền này H đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Cơ quan điều tra Trần Ngọc H thừa nhận hành vi Cướp giật tài sản của mình như nội dung nêu trên.
Tại kết luận định giá tài sản số 123/KLĐGTS-TCKH ngày 22/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14, dung lượng 128 Gb màu trắng có trị giá 18.000.000 đồng. (Bút lục số 34).
Vật chứng:
Thu giữ của Trần Ngọc H:
- 01 quần Jean, 01 áo khoác có chữ Now Food, 01 nón lưỡi trai màu đen, 01 đôi dép màu trắng, là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản.
- 01 điện thoại Iphone XS max, sim số 0353650677
- 01 xe Honda Wave màu xanh, biển số 50Y1-019.56. Số máy: HC09E0096562, Số khung: RLHHC09023Y096457. Kết quả xác minh xe do ông Trương Văn T. Ông T khai đã bán xe trên cho cửa hàng cầm đồ ở quận G (không nhớ địa chỉ). H khai mua lại xe trên của người khác (không rõ lai lịch), sau đó sử dụng đi cướp giật tài sản.
Thu giữ của ông Nguyễn Lục K:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 màu trắng 128GB. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Nguyễn Thị H1.
Phần dân sự:
Bị hại bà Nguyễn Thị H1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Lục K không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc H đã thừa nhận hành vi phạm tội “Cướp giật tài sản” của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 175/CTr-VKSBTh ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, theo điểm d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Trần Ngọc H đã có hành vi cướp giật tài sản.
Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Ngọc H từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật và buộc bị cáo H nộp lại số tiền thu lợi bất chính 5.800.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì, bị cáo biết lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc H đã thừa nhận: Vào khoảng 12 giờ ngày 10/11/2023, bị cáo Trần Ngọc H đã có hành vi sử dụng xe môtô Honda Wave màu xanh, biển số 59G1-01956 cướp giật 01 túi xách bên trong có 01 điện thoại Iphone 14 màu trắng, 01 ví màu đen bên trong ví có 1.800.000 đồng tiền mặt, một số đồ trang điểm và giấy tờ cá nhân, tổng tài sản có trị giá 19.800.000 đồng của bà Nguyễn Thị H1 tại trước hẻm S đường N, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, H mang điện thoại Iphone 14 màu trắng đi bán cho ông Nguyễn Lục K với giá 4.000.000 đồng.
Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Trần Ngọc H đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, khoản 2Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.
[3] Về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Xét bị cáo là người có đủ sức khỏe để lao động kiếm sống, bằng ý thức của mình, bị cáo biết rõ đó là tài sản đang thuộc sở hữu của người khác, nhưng do lười lao động mà lại muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài cho bản thân nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở về cách quản lý tài sản của chủ sở hữu để thực hiện hành vi cướp giật tài sản.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự quản lý xã hội của Nhà nước, gây tác động xấu đến đời sống xã hội, gây hoang mang lo lắng cho nhân dân khi tham gia lưu thông trên đường phố. Hành vi cướp giật tài sản còn có thể gây nguy hại đến sức khỏe, sinh mạng của con người khi bị cáo cố tình trốn chạy sự truy đuổi của người dân và cơ quan chức năng nên Hội đồng xét xử cần phải có một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Trần Ngọc H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, là thành phần lao động nghèo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- 01 USB có chứa hình ảnh H thực hiện hành vi cướp giật túi xách của chị Nguyễn Thị H1 tại trước hẻm S đường N, Phường E, quận B. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng lưu giữ chứng cứ liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần lưu vào hồ sơ để lưu trữ.
- 01 quần Jean, 01 áo khoác có chữ Now Food, 01 nón lưỡi trai màu đen, 01 đôi dép màu trắng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, nay không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại Iphone XS max, sim số 0353650677 là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo
- 01 xe Honda Wave màu xanh, biển số 50Y1-019.56. Số máy: HC09E0096562, Số khung: RLHHC09023Y096457. Kết quả xác minh xe do ông Trương Văn T đứng tên chủ sở hữu. Ông T khai đã bán xe trên cho cửa hàng cầm đồ ở quận G, không nhớ địa chỉ. H khai mua lại xe trên của người khác (không rõ lai lịch), sau đó sử dụng đi cướp giật tài sản. Do đó, cần tịch thu để nộp ngân sách nhà nước.
Các vật chứng khác Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
[7] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Cướp giật tài sản”;
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- - Lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB có chứa hình ảnh H thực hiện hành vi cướp giật túi xách của chị Nguyễn Thị H1 tại trước hẻm S đường N, Phường E, quận B.
- - Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 quần Jean, 01 áo khoác có chữ Now Food, 01 nón lưỡi trai màu đen, 01 đôi dép màu trắng, là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản.
- - Tuyên trả cho Trần Ngọc H 01 điện thoại Iphone XS max (không rõ tình trạng hoạt động, không kiểm tra được bên trong).
- - Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô, biển số 50Y1-019.56; màu xanh; số máy: HC09E0096562; số khung: RLHHC09023Y096457. Qua xác minh loại xe: Hai bánh từ 50 đến 173 cm3; nhãn hiệu: Honda; số loại; Wave; màu sơn: Đỏ, dung tích xy lanh: 97 cm3.
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Trần Ngọc H phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Trần Ngọc H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ điểm d, khoản 2 Điều 171; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 15/11/2023
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thanh Mười |
Bản án số 160/2024/HSST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (cướp giật tài sản)
- Số bản án: 160/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc H - Cướp giật tài sản
