Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 160/2024/HS-ST

Ngày 10/12/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Kim Đào

Ông Trần Ngọc Ánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 158/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Đức T; Tên gọi khác: Khoai; Sinh ngày: 20/4/1991, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố F, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Võ Duy T1 và con bà: Lê Thị M, cùng trú tại: Khu phố F, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Lữ Thị Thu T2, sinh năm 1997; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: Võ Thị Linh N, sinh năm 2018;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Có 01 tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2023/HSST ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt Võ Đức T 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2024 tại Trại giam N1.

- Nhân thân: Ngày 15/6/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2012 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/7/2024, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ cho đến nay. Có mặt.

* Người tham gia tố tụng:

- Đại diện hợp pháp đồng thời là người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị M (Mẹ của bị cáo), sinh năm 1959; địa chỉ: Khu phố F, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Tuyên H; sinh năm: 1992; địa chỉ: Khu phố G, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1974; địa chỉ: Khu phố G, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 20/6/2024, Võ Đức T đi bộ ngang qua đường N (thuộc khu phố E, phường E, thành phố Đ), lúc này, T thấy một xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 74C1-010.09, màu đỏ đen, đang để trên vỉa hè trước số F đường N không có người trông coi nên lén lút dùng chìa khóa (vừa nhặt được trước đó) cắm vào ổ khóa, mở được xe và nhanh chóng khởi động, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74C1-010.09 rời khỏi hiện trường, ra đường Quốc lộ 9 và tiếp tục đi qua nhiều tuyến đường trên thành phố Đ rồi đưa về cất giấu tại nhà T để chờ tìm nơi tiêu thụ. Chiều cùng ngày, khi chưa tiêu thụ được xe mô tô biển kiểm soát 74C1-010.09, T đã bị Công an P, thành Đ phát hiện và mời về làm việc. Tại Cơ quan Công an, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp lại xe mô tô biển kiểm soát 74C1-010.09 cùng chìa khóa trên.

Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển kiểm soát 74C1-010.09 thuộc sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị T3. Bà T3 cho con rể của mình là anh Nguyễn Tuyên H mượn để làm phương tiện đi lại. Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 20/6/2024, anh H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74C1-010.09 đến để trên vỉa hè trước số 06 Nguyễn Công T4 để bán quán ăn sáng tại số B N (thuộc khu phố E, phường E, thành phố Đ) thì bị mất.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 74C1-010.09, hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, số máy: 5C64-425872, số khung: C640BY425870, đã qua sử dụng;

- 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số 007965, tên chủ xe Nguyễn Thị T3; địa chỉ khu phố G, phường E, Đ; biển số đăng ký: 74C1-010.09;

- 01 (một) chìa khóa cơ; chuôi làm bằng nhựa, màu đen, khắc chữ “HONDA", kích thước 2,3cm x 1,8 cm; lưỡi chìa khóa làm bằng kim loại, dẹt, kích thước 03 cm x 0,9 cm, đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 2147/KL-HĐĐGTS ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: Trị giá xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ - đen, số máy: 5C64-425872, số khung: C640BY425870, biển kiểm soát 74C1-010.09, đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu ngày 01/3/2011, trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Tại bản kết luận giám định số 1786/KLG Đ ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Trung tâm P1, kết luận:

* Tại thời điểm gây án:

a. Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Rối loạn phân liệt cảm xúc, loại trầm cảm (F25.1).

b. Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

* Thời điểm hiện tại:

a. Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Rối loạn phân liệt cảm xúc, loại trầm cảm (F25.1).

b. Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Cáo trạng số 160/CT-VKSĐH ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo Võ Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Võ Đức T (Tên gọi khác: K) về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Đức T từ 10 tháng đến 12 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chìa khóa cơ; chuôi làm bằng nhựa, màu đen, khắc chữ “HONDA".

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng nên hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 08 giờ ngày 20/6/2024, Võ Đức T đã có hành vi lén lút dùng chìa khóa (nhặt được) cắm vào ổ khóa xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 74C1-010.09, màu đỏ đen của anh Nguyễn Tuyên H đang để trên vỉa hè trước số F đường N, sau đó đưa về cất giấu tại nhà T để chờ tìm nơi tiêu thụ. Chiều cùng ngày, khi chưa tiêu thụ được xe mô tô thì bị phát hiện. Trị giá xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát 74C1-010.09 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo Võ Đức T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ.

[3] hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại, làm mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 06/01/2023 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/2/2024, chưa được xóa án lại tiếp tục phạm tội, nên phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Nhân thân: Ngày 15/6/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2012.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cùng với các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Ngày 22/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 394/QĐ-ĐCSHS bằng hình thức: Trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 74C1-010.09, hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, số máy: 5C64-425872, số khung: C640BY425870, đã qua sử dụng và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 007965 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị T3.

- 01 (một) chìa khóa cơ; chuôi làm bằng nhựa, màu đen, khắc chữ “HONDA”, kích thước 2,3cm x 1,8 cm; lưỡi chìa khóa làm bằng kim loại, dẹt, kích thước 03 cm x 0,9 cm, đã qua sử dụng. Là công cụ phạm tội, quá trình điều tra không xác định được chủ sở hữu, bị cáo khai nhặt được trên đường, nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Tuyên H và bà Nguyễn Thị T3 không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn:

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ban hành Quyết định tạm giam 45 ngày đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[8] Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Võ Đức T (tên gọi khác: K) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Đức T 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 30/7/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) chìa khóa cơ; chuôi làm bằng nhựa, màu đen, khắc chữ “HONDA".

Vật chứng trên có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, buộc bị cáo Võ Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, đại diện hợp pháp đồng thời là người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND thành phố Đông Hà;
  • - Công an thành phố Đông Hà;
  • - Chi cục THADS TP Đông Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người có QL&NVLQ;
  • - THA hình sự,
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 160/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Đức T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger