|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 160/2024/HS-ST Ngày: 26/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lờ Thị Dung
Thẩm phán: Bà Lờ Thị Tõn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Viện;
Ông Đầu Khắc Dinh;
Ông Lờ Công Quyền.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi — Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 143/2024/TLST-ST, ngày 23 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2024/QĐXXST—HS ngày 07/8/2024 đối với bị cáo:
Nông Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 12/7/1982, tại: huyện H, tỉnh Tuyên Quang; Nơi thường trú trước khi bị bắt: thôn L, xã P, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp trước khi phạm tội: Lao động tự do; Con ông: Nông Văn Đ; Con bà: Nông Thị S; Vợ: Đặng Thị H (Đã ly hôn); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/11/2010, Nông Văn T bị tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tuyên phạt 10 (mười) tháng tự về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”; án phí hình sự sơ thẩm phải chịu 200.000đ theo bản án số 56/2010/HSST, Nông Văn T đã chấp hành xong; Bị tạm giữ, tạm giam từ 23/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lờ Thị P — Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
* Người bị hại: Ông Nguyễn Văn K, sinh 1956. Có mặt.
* Người có quyền lợi liên quan: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1983 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn E, Q, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nông Văn T, trú tại thôn L, xã P, huyện H, tỉnh Tuyên Quang có mối quan hệ tình cảm nam nữ, từng sống chung nhà như vợ chồng (không đăng ký kết hôn) với chị Nguyễn Thị M sinh năm 1983, trú tại thôn E, xã Q, thị xã B. Từ khoảng tháng 10/2023, giữa T và chị M có mâu thuẫn tình cảm nên T không sống cùng chị M ở thôn E, xã Q, thị xã B nữa mà về nhà bố mẹ đẻ ở xã P, huyện H, tỉnh Tuyên Quang để làm ăn, còn chị M đi làm công nhân giầy da tại huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 20/12/2023, T điều khiển xe mô tô Win có BKS số 22H6-3512 của ông Nông Duy K1, sinh năm 1978, ở thôn N, xã P, huyện H, tỉnh Tuyên Quang đi từ tỉnh Tuyên Quang đến tỉnh Thanh Hóa để tìm gặp chị M. Khoảng 04h00' ngày 21/12/2023, T về đến nhà chị M thì thấy cửa nhà đang khóa, do không có chìa khóa để mở cửa nên T đi vào vườn nhà xem cây cối và chờ gặp chị M.
Đến khoảng 05h30' cùng ngày, ông Nguyễn Văn K sinh năm 1956 (bố đẻ chị M) sống ở nhà bên cạnh dậy quét sân, T nhìn thấy ông K thì tiến lại hỏi chị M đi đâu và bảo ông K mở cửa nhà chị M cho T vào, ông K nói chị M khóa cửa đi làm ăn rồi, ông K không có chìa khóa để mở cửa. Lúc này T ra xe mô tô BKS số 22H6-3512 lấy cam quýt (T mang theo từ Tuyên Quang) cất bên hông nhà chị M, nhìn thấy quần áo của chị M vẫn đang phơi ở dãy phơi, T cho rằng ông K đã nói dối mình và nghĩ rằng chị M vẫn ở nhà không đi làm ở đâu cả nên nảy sinh ý định cắt, phá khóa để vào nhà chị M nên T lấy xe mô tô BKS số 22H6-3512 đi mua một ổ khóa của hãng V1 mới rồi sang nhà bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1973 (hàng xóm) mượn một dây ổ điện dài 7m. Khoảng hơn 7h ngày 21/12/2023, T ra bên hông nhà chị M lấy 01 chiếc búa đinh cán gỗ, tổng chiều dài 32cm, phần búa bằng kim loại màu xám, đầu tròn bằng vuông, đầu dưới nhọn dẹt (hai cạnh hình chữ V) và 01 chiếc máy cắt, nối dây điện lại gần cửa nhà chị M, một tay cầm máy cắt, một tay cầm búa đinh để cắt, phá khóa. Lúc này ông K đang băm rau ở sân sau nhà mình (sân sau nhà ông K ngay bên cạnh cửa nhà chị M) nghe thấy tiếng lục đục, nên mở cửa sau ra nhìn, thấy T đang cầm máy cắt định cắt, phá khóa cửa thì ông K đi ra cản lại và nói "không được cắt, chờ M về", T nói "con cắt, con thay ổ khóa mới", ông K giằng lấy máy cắt của T, đi lại phía mép vườn gần đó ném máy cắt ra vườn, T tức giận cầm búa đinh bằng tay phải tiến lại gần ông K, khi ông K vừa quay lại thì T giơ búa đinh lên đập hai cái vào vùng đầu và mặt của ông K khiến ông K ngã xuống nền bê tông, T tiếp tục cầm búa chạy lại chỗ ông K ngã đập thêm nhiều phát nữa vào vùng đầu, mặt và tai ông K rồi cầm theo búa leo lên xe mô tô bỏ chạy. Khi chạy đến đường B, đoạn qua thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, T ném chiếc búa sang bên phải đường, sau đó đến chợ thị xã B gửi xe mô tô rồi bắt xe khách bỏ chạy tiếp, đến chiều tối ngày 23/12/2023, T bị Công an thị xã B bắt giữ.
* Hiện trường vụ án: Hiện trường vụ án là khu vực nhà ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1956, ở thôn E, xã Q, thị xã B. Hiện trường trung tâm là sân trước nhà ông Trịnh Xuân N và chị Nguyễn Thị M. Lực lượng chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, ghi nhận và thu giữ các dấu vết, vật chứng theo quy định.
* Thương tích và các kết quả giám định: Tại Bản kết luận giám tổn thương trên cơ thể số 2164/KLTTCT-PYTH ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm P (BL:157-162) kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn K tại thời điểm giám định là: 66% (Sáu mươi sáu phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định số 2165/KLVGTT-PYTH ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm P (BL:165-167), kết luận: “Vết thương ở vùng thái dương trái sưng nề, có vết rách da đã được khâu sơ cứu, kích thước 06 cm, đang rỉ máu do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh; Vết thương ở vùng chẩm phải sưng nề, kích thước 4 x 1 cm, bờ mép vết rách nham nhở, lộ xương sọ biến dạng (ghi nhận trong bệnh án) do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh; V tai phải có vết thương 3 x 2 cm, bờ nham nhở, phức tạp, sụn vành tai dập nát, chảy nhiều máu (ghi nhận trong bệnh án) do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh.
Tại thời điểm giám định pháp y về vật gây thương tích, không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích. Tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu hồ sơ giám định do cơ quan trưng cầu cung cấp, cho phép Trung tâm P nhận định chiều hướng tác động của vật gây thương tích của một số vết thương như sau:
- - Vết thương ở vùng thái dương trái sưng nề, có vết rách da đã được khâu sơ cứu, kích thước 06 cm, đang rỉ máu: Vết có chiều từ trên xuống dưới, từ trái qua phải.
- - Vết thương ở vùng chẩm phải sưng nề, kích thước 4 x 1 cm, bờ mép vết rách nham nhở, lộ xương sọ biến dạng (ghi nhận trong bệnh án): Vết có chiều từ trên xuống dưới, từ phải qua trái.
- - Vành tai phải có vết thương 3 x 2 cm, bờ nham nhở, phức tạp, sụn vành tai dập nát, chảy nhiều máu (ghi nhận trong bệnh án): Vết có chiều từ ngoài vào trong, từ trái sang phải..
Với các thương tích của ông Nguyễn Văn K, nếu không điều trị kịp thời thì có thể ảnh hưởng đến tính mạng của ông K.”
Tại Bản kết luận giám định số 590/KL-KTHS ngày 07 tháng 2 năm 2024 của phòng K3 Công an tỉnh T: “Trên búa đinh gửi đến giám định có máu, tế bào của Nguyễn Văn K”.
* Thu giữ và xử lý vật chứng:
- - 01 máy cắt cầm tay màu đen dán nhãn M1, 01 ổ điện có dây nối phích cắm dài 7m và 01 dép nhựa màu đỏ nhãn hiệu XINHHUA, tất cả được niêm phong trong 01 hộp bìa các tông màu xanh kích thước (25x30)cm, có chữ ký của Mai Văn P1, Trịnh Xuân N, Tống Trung K2 và hình dấu của Công an xã Q, B;
- - 01 búa đinh cán gỗ, tổng chiều dài 32cm, phần búa bằng kim loại màu xám, đầu tròn bằng vuông, đầu dưới nhọn dẹt (hai cạnh hình chữ V) được niêm phong trong túi niêm phong có mã số PS2A069159;
- - 01 túi xách bằng chất liệu vải màu xanh kích thước (15 x 35)cm; 01 túi xách màu đỏ bằng chất liệu vải kích thước (55x35)cm và 01 túi bao bì màu đỏ, tất cả được niêm phong trong bao tải màu đỏ, dán kín, có các chữ ký của Trần Minh H1, Đỗ Tuấn A, Trịnh Văn H2 và Mai Hoàng Ngọc T1.
- Ngày 22/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã B phát hiện và thu giữ chiếc xe mô tô Win có BKS số 22H6-3512 do Nông Văn T điều khiển đi đến hiện trường đang để tại bãi giữ xe của Chợ B, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình xác minh xác định chiếc xe mô tô trên không phải xe tang vật của vụ án khác, chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe này là ông Nông Duy K1, sinh năm 1978, trú tại thôn L, xã P, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Ngày 18/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T Quyết định xử lý tài sản là xe mô tô Win có BKS số 22H6-3512 bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nông Duy K1 theo quy định của pháp luật.
* Trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, Nông Văn T trong quá trình bị giam giữ đã tác động đến gia đình thay mình bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn K số tiền 5.000.000đ. Ông Nguyễn Văn K và gia đình yêu cầu Nông Văn T phải bồi thường thêm 500.000.000đ để khắc phục thiệt hại, tổn thất vật chất và tinh thần mà T đã gây ra cho ông K.
Tại bản cáo trạng số 79/CT-VKS-P2, ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố Nông Văn T về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
* Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa:
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nông Văn T về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
- - Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điểm n Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1 Điều Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 57 BLHS.
- Đề nghị xử phạt: Nông Văn T mức án từ 11 — 12 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tự tính từ ngày 23/12/2023.
- - Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự thỏa thuận bị cáo sẽ có trách nhiệm bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 200.000.000đ, trừ 10.000.000đ đã bồi thường, còn phải bồi thường tiếp 190.000.000đ
- - Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế khó khăn nên miễn án phí hình sự và án phí dân sự.
- - Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ vật chứng đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá.
* Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh khung hình phạt mà VKSND tỉnh Thanh Hóa đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường được một phần thiệt hại, bị hại tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Trong vụ án này bị cáo phạm tội chưa đạt. Đề nghị quyết định cho bị cáo hình phạt nhẹ hơn mức án đại diện VKS đề nghị để bị cáo yên tâm cải tạo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan CSĐT, điều tra viên Công an tỉnh T, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên VKSND tỉnh Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa của bị cáo xác định:
Tại phiên toà hôm nay, qua thẩm vấn công khai bị cáo Nông Văn T thừa nhận: Do mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ tình cảm giữa Nông Văn T và chị Nguyễn Thị M, nên ngày 21/12/2023 T đến thôn E, xã Q, thị xã B để tìm gặp chị M để giải quyết mâu thuẫn. Khi đến nhà, T nhìn thấy quần áo của chị M phơi ở hông nhà, cho rằng ông K (bố chị M) nói dối mình về việc chị M không có nhà, T lấy máy cắt và búa đinh cắt, phá khóa để vào nhà chị M. Khi bị ông K cản lại và ném máy cắt của mình ra vườn, T tức giận, không kiềm chế được bản thân nên đã có hành vi dùng búa đinh đập liên tiếp nhiều nhát vào đầu, mặt và tai ông K, khiến ông K bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 66% (Sáu mươi sáu phần trăm).
Chỉ từ nguyên cớ nhỏ nhặt bị cáo Nông Văn T đã có hành vi búa đinh (hung khí nguy hiểm) đập nhiều phát vào vùng đầu, mặt (vùng trọng yếu trên cơ thể) của ông Nguyễn Văn K, bị cáo nhận thức rõ có thể dẫn đến chết người, nhưng vẫn cố ý thực hiện và sau đó bỏ chạy khỏi hiện trường, để mặc hậu quả xảy ra, ông K không chết là do được cấp cứu và điều trị kịp thời. Hành vi của Nông Văn T thể hiện tính côn đồ, hung hãn; Do đó, hành vi trên đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Hành vi của Nông Văn T là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến thân thể, sức khỏe của người khác trái pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án:
Tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của Nông Văn T có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự trị an địa phương, gây tổn hại đến thân thể, sức khỏe của người khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân và trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Trong vụ án này bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, bị hại không chết nhưng tỷ lệ thương tích khá nặng 66%, nhân thân bị cáo đã từng bị kết án về tội: Vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng. Với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình nên áp dụng Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường một phần cho bị hại, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong vụ án này bị cáo phạm tội chưa đạt, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa bị cáo và bị hại và người có quyền lợi liên quan đã thỏa thuận bồi thường 200.000.000đ. Xét việc thỏa thuận bồi thường là tự nguyện nên chấp nhận, trừ 10.000.000đ đã bồi thường, bị cáo còn phải bồi thường tiếp 190.000.000đ.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 bao tải màu đỏ được dán kín niêm phong; 01 hộp bìa cát tông màu xanh được dán kín niêm phong; 01 túi niêm phong có mã số PS2A069159. (Các vật chứng trên đang tạm giữ tại Cục THA dân sự tỉnh T theo biên bản giao nhận số 185 ngày 02 tháng 8 năm 2024).
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc hộ nghèo, vùng kinh tế khó khăn nên không phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm n Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1 Điều Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 57; Điều 38; Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Nông Văn T phạm tội “Giết người” chưa đạt.
Xử phạt: Nông Văn T 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tự tính từ ngày 23/12/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự thỏa thuận bị cáo sẽ có trách nhiệm bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng), trừ 10.000.000đ đã bồi thường, còn phải bồi thường tiếp 190.000.000đ (một trăm chín mươi triệu đồng)
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 bao tải màu đỏ được dán kín niêm phong; 01 hộp bìa cát tông màu xanh được dán kín niêm phong; 01 túi niêm phong có mã số PS2A069159. (Các vật chứng trên đang tạm giữ tại Cục THA dân sự tỉnh T theo biên bản giao nhận số 185 ngày 02 tháng 8 năm 2024).
Về án phí: Bị cáo Nông Văn T không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lờ Thị Dung |
Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự (giết người chưa đạt)
- Số bản án: 160/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người chưa đạt)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nôgn Văn T "Giết người"chưa đạt
