Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2024/HSST

Ngày: 08/08/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hương Giang.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Văn Tuất
    2. Ông Nguyễn Văn Diệm
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý - Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 150/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 07 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 07 năm 2024 đối với bị cáo:

NGÔ VĂN V, sinh năm 1999; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện tại: Số B, ngách H, Tổ 1 Bằng A, H, H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Ngô Thăng L và con bà Nguyễn Thị Ánh T; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án; Ngày 29/9/2021, TAND quận Hoàng Mai, TP Hà Nội xử phạt 22 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 256/2021/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/01/2023 (Chưa được xóa án tích). Bị can đầu thú và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H - Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

  • + Cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày 04/11/2007.
  • Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện T, Hà Nội.
  • Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Đức A: Anh Nguyễn Đức T1 và

chị Lê Thị T2.

Vắng mặt tại phiên tòa.

  • + Cháu Nguyễn Trọng T3, sinh ngày 12/10/2007
  • Nơi cư trú: Số B, ngõ I Cầu T, xã T, huyện T, Hà Nội.
  • Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Trọng T3: Chị Trịnh Thị Hồng D.
  • Vắng mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 1971
  • Nơi cư trú: Số B, ngõ I Cầu T, xã T, huyện T, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà.
  • + Chị Vũ Thị H, sinh năm 1982.
  • Nơi cư trú: Đường B, phường H, H, Hà Nội.
  • Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16h00 ngày 02/5/2024, Ngô Văn V đi bộ lang thang một mình với mục đích trộm cắp tài sản. Khi đến quán game “Atom” ở số G, ngõ H Cầu B, Tả Thanh O, T, Hà Nội, V thấy cạnh cửa ra vào có để 01 chiếc xe đạp địa hình màu xanh đen nhãn hiệu Rocky (xe của anh Nguyễn Đức A, Sinh năm: 2007, HKTT: Đại Khang, H, T, Hà Nội - là khách đang chơi game trong quán) không có ai trông giữ nên V đã trộm cắp chiếc xe và điều khiển xe đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Vũ Thị H (Sinh năm: 1982, HKTT: X, X, Nam Định) ở gần khu vực trường Tiểu học C, xã H, H, Hà Nội, tại đây V thỏa thuận bán cho chị H chiếc xe với giá 120.000 đồng và đã tiêu xài hết số tiền này.

Đến khoảng 14h00 ngày 04/5/2024, Ngô Văn V đến quán game “Atom” để chơi game. Trong quá trình chơi game V thấy anh Nguyễn Trọng T3 (Sinh năm 2007, HKTT: Thôn N, T, T, Hà Nội- là khách đang chơi game trong quán) có để 01 chiếc xe đạp điện Dibao Nijia màu trắng ở cạnh cửa quán và không có người trông giữ nên V đã trộm cắp chiếc xe rồi dắt bộ đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Đỗ Văn Đ (Sinh năm: 1971, HKTT: Xóm C, X, X, Nam Định) ở số B, ngõ I, xã T, T, Hà Nội và thỏa thuận bán cho anh Đ với giá 500.000 đồng, số tiền này V đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi bị mất xe anh Nguyễn Trọng T3 đã tự đi tìm xe, khi anh đi đến cửa hàng mua bán đồng nát của anh Đỗ Văn Đ tại số B, ngõ I, xã T, T, Hà Nội thì phát hiện chiếc xe đạp điện Dibao Nijia của mình đang để ở đây. T3 được anh Đ chủ cửa hàng cho biết anh đã mua lại chiếc xe trên của một nam thanh niên không quen biết với giá 500.000 đồng nên anh T3 đã cùng gia đình đã chuộc lại chiếc xe với giá 500.000 đồng.

Đến ngày 06/05/2024, anh Nguyễn Đức A và anh Nguyễn Trọng T3 đã đến Công an Tả Thanh O trình báo. Sau khi tiếp nhận tin báo Công an xã T đã rà soát hiện trường và tạm giữ của chị Nghiêm Thị Kim O1 chủ quán “Atom” tại số G,

ngõ H, Cầu B, T, Hà Nội 01 USB bên trong có chứa dữ liệu hình ảnh camera ghi lại nội dung sự việc V đã trộm cắp 02 chiếc xe trên.

Ngày 06/05/2024, Ngô Văn V đã đến Cơ quan Công an xã T, huyện T đầu thú.

Chị Vũ Thị H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc xe đạp địa hình màu xanh, cam đen nhãn hiệu Rocky đã qua sử dụng.

Anh Nguyễn Trọng T3 cũng tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc xe đạp điện Dibao N mà anh đã tự chuộc lại.

Ngày 09/05/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với 02 chiếc xe bị trộm cắp trên. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 11/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận:

  • “- 01 xe đạp địa hình, màu xanh đen, có dán nhãn Rock, đã qua sử dụng có giá trị: 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).
  • - 01 xe đạp điện màu trắng, trên khung có dán nhãn DiBao, đã qua sử dụng có giá trị: 1.200.000 đồng (Một triệu, hai trăm nghìn đồng).”

Tại Cơ quan điều tra, Ngô Văn V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của V phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Đối với chị Vũ Thị H và anh Đỗ Văn Đ khi mua 02 chiếc xe không biết là tài sản do V phạm tội mà có nên Cơ quan Điều tra không xử lý. Chị H, anh Đ không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Đối với 01 chiếc xe đạp điện Dibao Nijia màu trắng là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Trọng T3 nên ngày 16/5/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T3, anh đã nhận lại xe và không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với 01 chiếc xe đạp địa hình Rocky màu xanh đen là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Đức A nên ngày 17/5/2024, Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho anh Đức A, anh đã nhận lại xe và không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với 01 USB bên trong chứa file video hình ảnh nội dung vụ việc là tài liệu chứng cứ nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 149/CT-VKS-TT ngày 15 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Ngô Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Ngô Văn V từ 10 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Đối với 01 USB bên trong chứa file video hình ảnh nội dung vụ việc là tài liệu chứng cứ nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Buộc bị cáo Ngô Văn V phải nộp sung công quỹ nhà nước số tiền 620.000 đồng thu lời bất chính.

Về dân sự:

Cháu Nguyễn Trọng T3 và gia đình đã nhận lại được tài sản của mình nên không có yêu cầu bị cáo V bồi thường về dân sự.

Cháu Nguyễn Đức A và gia đình đã nhận lại được tài sản của mình nên không có yêu cầu bị cáo V bồi thường về dân sự.

Chị Vũ Thị H không có yêu cầu bị cáo V bồi thường về dân sự.

Anh Đỗ Văn Đ đã nhận được tiền của gia đình cháu T3 khi chuộc lại xe đạp điện và không có yêu cầu bị cáo V phải bồi thường về dân sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà: Bị cáo Ngô Văn V giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân an huyện Thanh Trì thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân an huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/05/2024, tại cạnh cửa trước quán game “Atom” ở số G, Ngõ H Cầu B, Tả Thanh O, T, Hà Nội, Ngô Văn V đã trộm cắp của anh Nguyễn Đức A 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu Rocky màu xanh đen, có trị giá 600.000 đồng.

Đến khoảng 14 giờ 00 phút ngày 04/5/2024, cũng tại trước cửa quán game “Atom” ở số G, Ngõ H Cầu B, Tả Thanh O, T, Hà Nội, Ngô Văn V tiếp tục trộm

cắp của anh Nguyễn Trọng T3 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu DiBao Nijia màu trắng có trị giá 1.200.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Ngô Văn V đã trộm cắp là: 1.800.000 đồng.

Ngô Văn V trộm cắp tài sản có trị giá dưới 2.000.000 đồng tuy nhiên bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên hành vi nêu trên của bị cáo Ngô Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ Pháp lý

[3]. Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang cho nhân dân. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm trong đó có tội xâm phạm sở hữu, góp phần bảo vệ tài sản của nhân dân, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Về nhân thân, bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ; Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo ra đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[6]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Đối với 01 USB bên trong chứa file video hình ảnh nội dung vụ việc là tài liệu chứng cứ nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với số tiền thu lời bất chính, buộc bị cáo Ngô Văn V phải thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 620.000 đồng.

[7] Về dân sự:

Cháu Nguyễn Trọng T3 và gia đình đã nhận lại 01 chiếc xe đạp điện Dibao Nijia màu trắng, không có yêu cầu, đề nghị bị cáo V phải bồi thường về dân sự nên Tòa không xét.

Cháu Nguyễn Đức A và gia đình đã nhận lại 01 chiếc xe đạp địa hình Rocky màu xanh đen, không có yêu cầu, đề nghị bị cáo V phải bồi thường về dân sự nên Tòa không xét.

Chị Vũ Thị H không có yêu cầu đề nghị bị cáo V bồi thường về dân sự nên Tòa không xét.

Anh Đỗ Văn Đ không có yêu cầu đề nghị bị cáo V phải bồi thường về dân sự nên Tòa không xét.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với chị Vũ Thị H và anh Đỗ Văn Đ khi mua 02 chiếc xe không biết là tài sản do V phạm tội mà có nên Tòa không xét.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[10].Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Ngô Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • - Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1]. Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn V 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/05/2024.

[2] Xử lý vật chứng:

  • + Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB chứa video hình ảnh có liên quan đến vụ việc;
  • + Buộc bị cáo Ngô Văn V phải nộp sung công quỹ nhà nước số tiền 620.000 đồng thu lời bất chính.

[3]. Về án phí: Bị cáo Ngô Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi họ cư trú.

Nơi nhận

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Lê Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/HSST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 160/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger