Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 160/2024/HS-ST

Ngày: 05-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Văn Công.

- Bà Trần Ngọc Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vương Triều - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 159/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Út N, sinh năm 1996 tại An Giang. Nơi ĐKHKTT: Ấp L, xã L, thị xã T, An Giang; Chỗ ở: B khu phố A phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn) 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Trương Thị B; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • + Ngày 20/9/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến ngày 23/8/2018 chấp hành xong hình phạt tù.
  • + Ngày 25/9/2019, bị Công an phường T xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
  • + Ngày 19/6/2020, bị Công an phường B xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Trần Tuấn K (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 06/12/2023, Nguyễn Văn Út N đi đến khu vực (không nhớ cụ thể) thuộc thành phố D, Bình Dương gặp người đàn ông tên T khoảng 30 tuổi, dáng người thấp, nước da ngăm đen mua ma túy với giá 600.000 đồng rồi cất giấu bên trong vỏ thuốc lá hiệu JET để sử dụng.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 06/12/2023, Nguyễn Văn Út N điều khiển xe mô tô hiệu Exciter màu xanh – trắng – đen, biển số 93P1-293.14 để đi tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi đến trước địa chỉ B đường N, khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị tổ tuần tra Công an phường A yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, N khai nhận có sử dụng ma túy và tự nguyện lấy từ túi áo bên trái đang mặc trên người một gói thuốc lá nhãn hiệu JET bên trong có 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng giao nộp nên lực lượng công an tiến hành lập biên bản niêm phong tang vật và đưa N về trụ sở Công an phường A để làm việc. Vật chứng thu giữ:

  • - 01 gói nylon màu trắng hàn kín hai đầu chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M);
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu xanh - trắng - đen, gắn biển số 93P1-29314;
  • - 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET.

Ngày 07/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định số 878 trưng cầu giám định 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M) được niêm phong bên ngoài có chữ ký của người bị bắt Nguyễn Văn Út N, chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh T1, người chứng kiến Trần Tuấn K và dấu mộc đỏ của Công an phường A, thành phố T, Bình Dương.

Ngày 15/12/2023, Phòng K2 Công an tỉnh B có kết luận giám định số 670/KL- KTHS(MT) kết luận: 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của người bị bắt Nguyễn Văn Út N, chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh T1, người chứng kiến Trần Tuấn K và dấu mộc đỏ của Công an phường A, thành phố T, Bình Dương là ma túy, có khối lượng M=1,1020gam, loại Methamphetamine. Sau khi giám định, Phòng K2 Công an tỉnh B hoàn lại mẫu vật sau giám định được niêm phong, ký hiệu 670/PC09.

Bản Cáo trạng số 147/CT-VKS-TA ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố Nguyễn Văn Út N về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị căn cứ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Đối với người đàn ông tên T đã bán ma túy cho bị cáo để sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thông tin tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Bình Dương để điều tra, xử lý theo thẩm quyền. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: giữ nguyên như nội dung bản cáo trạng.

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố đối với bị cáo. Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải và mong muốn được xử mức án thấp nhất để có cơ hội sửa chữa bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra đến khi có quyết định xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Người làm chứng vắng mặt nhưng xét đã có lời khai đầy đủ, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng.

[2] Quá trình điều tra, bị cáo N khai nhận đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,1020 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện. Trong vụ án này, bị cáo N là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Về lỗi của bị cáo: Khi thực hiện cất giấu chất ma túy, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết được tác hại của ma túy và việc tàng trữ chất ma túy bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích có ma túy để sử dụng. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi cất giữ trái phép 1,1020 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo vi phạm chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm an ninh, trật tự tại địa phương, một trong những tác hại là gây nghiện, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội và nhiều căn bệnh nguy hiểm khác, nhất là trong giai đoạn hiện nay tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.

Bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, khi chấp hành án xong bị cáo lại tiếp tục 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chứng tỏ bị cáo vẫn chưa cải tạo tốt, chưa nghiêm túc chấp hành pháp luật và từ bỏ ma túy. Do đó, cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục đối với bị cáo và răn đe các đối tượng khác nhằm phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có cha ruột tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975, thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, tuy nhiên đại diện Viện kiểm sát không áp dụng tình tiết giảm nhẹ bị cáo có cha ruột là người có công nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết này và xử bị cáo mức án nhẹ hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[8] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

+ Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong ghi vụ số 670/PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng K2 Công an tỉnh B, bên ngoài có chữ ký Nguyễn Văn Út N, chữ ký người chứng kiến Trần Tuấn K, chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh T1, chữ ký đại úy Đặng Minh Đ và hình dấu đỏ của Công an phường A (kèm theo Kết luận 670/KL-KTHS (SM) ngày 15/12/2023); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu xanh - trắng - đen, gắn biển số 93P1 - 293.14, Nguyễn Văn Út N khai mua lại của một người bạn tên T2 vào năm 2022 với giá 6.000.000đ (sáu triệu đồng) tại khu vực phường T, thành phố T, Bình Dương, không làm giấy tờ mua bán xe và không có giấy tờ xe. Qua tra cứu biển số 93P1 - 293.14 được cấp cho xe Yamaha Sirius, số khung: RLCS5C630BY587124, số máy: 5C63587179 mang tên ông Điểu K1, trú tại Tổ B, S, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước. Qua xác minh, bà Thị Q (là vợ của ông Điểu K1) cho biết ông K1 đã chết năm 2021 và ông K1 không có sở hữu xe mô tô có biển số 93P1 - 293.14. Theo Kết luận giám định xe mô tô thu giữ khi bắt bị cáo thì xe có số khung RLCE55P10EY381110, số máy 55P1381124 không đổi, không phát hiện dấu vết cắt hàn, đục sửa. Tra cứu số khung RLCE55P10EY381110, số máy 55P1381124 này là của biển số 36B3 - 686.85 do Lê Thị Bích D, sinh năm 2002, địa chỉ: thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk đứng tên sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành ủy thác xác minh, tuy nhiên theo kết quả trả lời của Công an huyện L thể hiện bà D không có mặt tại địa phương, đi làm ăn xa không rõ đi đâu. Do đó, cần giao xe mô tô trên cho Cơ quan điều tra thành phố T tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý sau.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Điều 106, 290, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV:
  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Út N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Út N 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/12/2023.
  3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

    Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong ghi vụ số 670/PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng K2 Công an tỉnh B, bện ngoài có chữ ký Nguyễn Văn Út N, chữ ký người chứng kiến Trần Tuấn K, chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh T1, chữ ký đại úy Đặng Minh Đ1 và hình dấu đỏ của Công an phường A (kèm theo Kết luận 670/KL-KTHS (SM) ngày 15/12/2023); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET.

    (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

  4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THA thành phố Thuận An;
  • - Công an thành phố Thuận An;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo; Người có QL, NV liên quan;
  • - Lưu: VT, HSVA, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hoa Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 160/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ut Nho mua ma tuy sd
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger