|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 160/2024/HS-ST Ngày: 28/11/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
Ông Đặng Văn Đê
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim Thoa – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 167/2024/TLST - HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2024/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
-
Nguyễn Văn T1;
tên gọi khác: Không, sinh năm 1976 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Xóm T, tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn  (chết) và bà: Đoàn Thị T2, sinh năm 1948; có vợ là Vũ Thị L (Đã ly hôn) và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không;Nhân thân:
- + Tại Bản án số 72/HSST ngày 22/7/1998 Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân"
- + Ngày 19/3/2020, Công an huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”. Mức xử phạt là 2.500.000 đồng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 14/8/2024; tạm giam từ ngày 20/8/2024. (Có mặt)
-
Bị hại:
Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Tổ H, khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt) -
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Phạm Thị M, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Số A, đường T, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T1 và ông Lê Văn Đ có mối quan hệ quen biết và cùng làm nghề bán hủ tiếu. Do biết ông Đ vừa đóng xe bán hủ tiếu mới nên Thưởng này sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên. Khoảng 02 giờ đến 03 giờ sáng ngày 13/8/2024, sau khi đi nhậu về, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Attila, màu đen, biển số 60Y2-7697 đến phòng trọ của ông Đ tại tổ H, khu phố D, phường P, thành phố B. Thưởng quan sát thấy xe hủ tiếu được ông Đ để trước phòng trọ, không có ai trông coi nên lấy dây buộc chiếc xe trên vào đuôi chiếc xe mô tô rồi chạy đến nhà ông Nguyễn Văn T3 (là cháu của T1) tại tổ B, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đ nhờ T3 giữ giùm. Đến sáng ngày 13/8/2024, do không tìm thấy chiếc xe đẩy bán hủ tiếu nên ông Đ đến Công an phường P trình báo. Sau khi biết sự việc trên thì đến ngày 14/8/2024 bị cáo T1 đã đến Công an phường P đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T1 khai nhận mục đích trộm cắp chiếc xe của ông Đ đem về sử dụng để bán hủ tiếu nhằm có thêm thu nhập, việc trộm cắp tài sản của ông Đ chỉ do mình bị cáo thực hiện. Khi mang xe đến gửi Nguyễn Văn T3 thì T1 chỉ nói nhờ giữ hộ vài hôm và không nói về nguồn gốc tài sản cho ông T3 biết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 177/KL-HĐĐGTS ngày 15/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 xe đẩy bán hủ tiếu (loại xe tự chế) dài 1,4m; ngang 0,9m; cao 0,9m có giá trị 11.666.667 đồng (Mười một triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng) (BL 32, 33).
Vật chứng trong vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ và xử lý:
- - 01 (một) chiếc xe đẩy bán hủ tiếu (loại xe tự chế) kích thước 1,4m x 0,9m x 0,9m.
- - 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Attila, màu đen, gắn biển số 60Y2-7697 có số máy RLGKA12CD8D001586, số khung VMVT3AD001586.
- + Đối với 01 (một) xe đẩy bán hủ tiếu, Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Lê Văn Đ (BL 41, 42)
- + Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Attila, màu đen, gắn biển số 60Y2-7697, đã tiến hành giám định. Tại Kết luận giám định số 292/KL-KTHS-SKSM ngày 10/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: xe mô tô gắn biển số 60Y2-7697 có số máy RLGKA12CD8D001586, số khung VMVT3AD001586 là số khung, số máy nguyên thủy. (BL 44)
Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe mô tô BKS 60Y2-7697, T1 khai mượn của bà Phạm Thị M, bà M không biết T1 sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản. Về nguồn gốc chiếc xe mô tô, bà M mua của một người đàn ông lạ mặt tại khu vực chợ thị trấn L, huyện L vào năm 2021 với giá 1.000.000 đồngđồng, hai bên không làm giấy giấy tờ mua bán xe, bà M nhận 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhưng hiện đã làm mất. Bà M không có yêu cầu gì đối với bị cáo T1 về chiếc xe trên.
Qua xác minh xác định chủ sở hữu chiếc xe mô tô trên là bà Lê Thị Kim D (sinh năm 1975, HKTT: ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai) đứng tên chủ sở hữu. Bà D khai bị mất trộm xe này vào khoảng tháng 6/2008 tại địa bàn xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Do có dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản, nên Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến chiếc xe mô tô biển số 60Y2-7697 và chuyển tang vật cũng như nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai để tiếp tục xác minh, làm rõ.
+ Quá trình hỏi cung Cơ quan điều tra có lưu 01 (một) đĩa DVD lưu trữ dữ liệu ghi hình có âm thanh buổi hỏi cung đối với Nguyễn Văn T1, nên cần lưu vào hồ sơ vụ án.
Về bồi thường thiệt hại: Ông Lê Văn Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Ngoài ra, ông Đ có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 167/CT-VKSTPBR ngày 11/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1 và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 12 đến 15 tháng tù.
Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không có yêu cầu bồi thường đối với bị cáo T1. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quan điểm luận tội của Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
-
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên;
Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. -
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo:
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ đến 03 giờ sáng ngày 13/8/2024, tại nơi ở của ông Lê Văn Đ thuộc phường P, thành phố B, bị cáo Nguyễn Văn T1 đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe đẩy bán hủ tiếu của ông Đ có giá trị 11.666.667 đồng. Hành vi của các bị cáo T1 thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. -
[3] Xét tính chất, mức độ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có nghề nghiệp buôn bán nhỏ nhưng vì lòng tham đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã được giáo dục cải tạo nhưng khi có điều kiện lại tiếp tục phạm tội. Lần phạm tội này cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra. -
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Không có. Tình tiết giảm nhẹ: Từ khi phạm tội đến phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi đã đến cơ quan Công an đầu thú khai nhận hành đã thực hiện; tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi và trao trả lại cho bị hại. Sau khi nhận tài sản thì ông Đ có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình. -
[5] Về bồi thường thiệt hại:
Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm; Bà M là người cho bị cáo mượn xe mô tô biển số 60Y2-7697 cũng không có yêu cầu gì, nên đã giải quyết xong. -
[6] Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho chủ sở hữu nên đã giải quyết xong; đối với mô tô biển số 60Y2-7697 cùng nguồn tin về tội phạm đã được Cơ quan điều tra Công an thành phố B chuyển đến Cơ quan điều tra Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai để tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau. Đối với 01 (một) đĩa DVD lưu trữ dữ liệu ghi hình có âm thanh buổi hỏi cung đối với Nguyễn Văn T1 cần lưu hồ sơ vụ án. -
[7] Bị cáo phải nộp án phí
và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/8/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
-
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm (Người vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hoàng Anh |
Nơi nhận:
|
Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 160/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Th phạm tội trộm cắp tài sản
