TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN Bản án số: 160/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-11-2024 V/v ly hôn giữa ông Ơ và bà P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Thủy Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Út.
- Bà Ngô Hồng Điệp.
- Thư ký phiên tòa:
bà Đặng Thị Lan Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 543/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn Ơ, sinh năm: 1960;
- Bị đơn: bà Trương Thị P, sinh năm: 1963;
Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
(Tất cả đương sự đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/9/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ơ trình bày:
Về hôn nhân: ông Ơ và bà P cưới nhau năm 1984, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 69/2018 ngày 15/6/2018, hôn nhân tự nguyện. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không tin tưởng nhau về vấn đề tiền bạc, tài sản nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, không thể ngồi lại nói chuyện với nhau để hàn gắn mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn. Vợ chồng đã ly thân khoảng 06 năm nay. Trước đây, ông Ơ đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà P nhưng do các con khuyên ngăn nên ông Ơ đã rút đơn khởi kiện để vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn nhưng đến nay mâu thuẫn giữa ông Ơ và bà P vẫn chưa hàn gắn được. Hiện nay vợ chồng không còn sống chung nhà. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Ơ yêu cầu được ly hôn với bà P.
Về con chung: ông Ơ và bà P chung sống với nhau có tất cả 04 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 26/9/1985; Nguyễn Minh K, sinh ngày 25/10/1987; Nguyễn Minh T, sinh ngày 23/01/1993 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 16/4/1997. Hiện nay cả 04 con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trương Thị P trình bày:
Về hôn nhân: bà P thống nhất về thời gian xác lập quan hệ hôn nhân, đăng ký kết hôn đúng như ông Ơ nêu. Vợ chồng ly thân từ tháng 9/2011 và hiện nay không còn chung sống với nhau. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn về vấn đề tài sản nhưng bà mong muốn ông Ơ quay về chung sống với nhau để chia rõ vấn đề tài sản cho các con. Đối với yêu cầu ly hôn, bà P không đồng ý nhưng hiện nay bà chưa có biện pháp nào để vợ chồng hàn gắn.
Tại phiên tòa, bà P thống nhất về thời gian xác lập quan hệ hôn nhân là từ năm 1984, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 69/2018 ngày 15/6/2018. Vợ chồng ly thân từ tháng 9/2021 và hiện nay không còn sống chung nhà. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn về vấn đề tài sản, vợ chồng có ngồi lại tìm cách hàn gắn nhưng không có kết quả, sau đó bà P cũng không để trong lòng. Bà P vẫn giữ nguyên ý kiến không đồng ý ly hôn với ông Ơ. Lý do: vợ chồng đã lớn tuổi, có con cháu, có sui gia nên muốn làm gương cho con cháu. Bà Ơ đưa ra biện pháp hàn gắn mâu thuẫn là ông Ơ quay về nhà chung sống với bà ngoài ra không có biện pháp hàn gắn nào khác.
Về con chung: bà P và ông Ơ chung sống với nhau có tất cả 04 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 26/9/1985; Nguyễn Minh K, sinh ngày 25/10/1987; Nguyễn Minh T, sinh ngày 23/01/1993 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 16/4/1997. Hiện nay cả 04 con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: ông Nguyễn Văn Ơ khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Trương Thị P. Bà P là bị đơn hiện đang cư trú tại Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về hôn nhân: ông Ơ và bà P cưới nhau năm 1984, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 69/2018 ngày 15/6/2018 nên xác định hôn nhân giữa ông Ơ và bà P là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ông Ơ trình bày sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không tin tưởng nhau về vấn đề tiền bạc, tài sản nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, không thể ngồi lại nói chuyện với nhau để hàn gắn mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn. Vợ chồng đã ly thân khoảng 06 năm nay. Trước đây, ông Ơ đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà P nhưng do các con khuyên ngăn nên ông Ơ đã rút đơn khởi kiện để vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn nhưng đến nay mâu thuẫn giữa ông Ơ và bà P vẫn chưa hàn gắn được. Hiện nay vợ chồng không còn sống chung nhà. Bà P trình bày vợ chồng ly thân từ tháng 9/2021 và hiện nay không còn sống chung nhà. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn về vấn đề tài sản, vợ chồng có ngồi lại tìm cách hàn gắn nhưng không có kết quả, sau đó bà P cũng không để trong lòng. Bà P vẫn giữ nguyên ý kiến không đồng ý ly hôn với ông Ơ. Lý do: vợ chồng đã lớn tuổi, có con cháu, có sui gia nên muốn làm gương cho con cháu. Bà P đưa ra biện pháp hàn gắn là ông Ơ quay trở về sống chung nhà nhưng không được ông Ơ chấp nhận. Tại phiên tòa, ông Ơ vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với bà P. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa ông Ơ và bà P đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Ơ đối với bà P.
[2.2] Về con chung: ông Ơ và bà P chung sống với nhau có tất cả 04 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 26/9/1985; Nguyễn Minh K, sinh ngày 25/10/1987; Nguyễn Minh T, sinh ngày 23/01/1993 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 16/4/1997. Hiện nay cả 04 con chung đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: ông Ơ và bà P xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung: ông Ơ và bà P xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về án phí: ông Nguyễn Văn Ơ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ơ về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn bà Trương Thị P.
- Về hôn nhân: ông Nguyễn Văn Ơ được ly hôn với bà Trương Thị P.
- Về con chung: ông Ơ và bà P chung sống với nhau có tất cả 04 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 26/9/1985; Nguyễn Minh K, sinh ngày 25/10/1987; Nguyễn Minh T, sinh ngày 23/01/1993 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 16/4/1997. Hiện nay cả 04 con chung đã trưởng thành.
- Về án phí: ông Nguyễn Văn Ơ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông Ơ đã nộp theo biên lai thu số 0012541 ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, ông Ơ đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thủy Tiên |
4
Bản án số 160/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An về ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 160/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
