Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH THUẬN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày: 30-5-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hoàng Mơn;

Ông Huỳnh Văn Thêm.

-Thư ký phiên tòa: Bà Đào Chúc Phương - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Gi T, sinh ngày 19/4/2001; Nơi cư trú: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn T1 và bà Lâm Thị Đ; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: tốt. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/02/2024 và chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tam giam tại Cơ quan Quản lý tạm giữ, tạm giam công an huyện V; có mặt

Người làm chứng:

1/ Phan Văn T1, sinh ngày 01/01/1983; Nơi cư trú: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt

2/ Nguyễn Thị Bé N, sinh ngày 21/10/1985; Nơi cư trú: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 19/02/2024, Phan Gi T có hành vi cất giấu 02 bịch nylon chứa chất ma túy trong phòng ngủ tại nhà riêng của gia đình thuộc ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang thì bị lực lượng Công an xã V kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Qua làm việc, T khai nhận số ma túy nêu trên trước đó mua tại tỉnh Đồng Nai của đối tượng không rõ tên và địa chỉ cụ thể với số tiền 3.800.000 đồng rồi mang về nhà đã sử dụng một ít, số còn lại cất giấu mục đích để sử dụng thì bị kiểm tra phát hiện bắt quả tang, việc cất giấu chất ma túy trong gia đình không ai biết. Trong quá trình điều tra, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi nêu trên.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • + 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín hai đầu, một đầu cắt nhọn bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất;
  • + 01 (một) bịch nylon màu trắng hàn kín hai đầu bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất;
  • + Dụng cụ sử dụng ma túy gồm một bình nhựa bên ngoài có dán băng keo màu đen, trên nắp có gắn nỏ thủy tinh màu trắng, số lượng: 1 cái;
  • + Cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng, số lượng: 1 cái;
  • + Bật lửa (hột quẹt ga) đã qua sử dụng, số lượng: 1 cái;
  • + Khây giấy màu xanh kích thước 0,175 x 0,125 x 0,025m, số lượng: 1 cái;
  • + Hộp giấy màu đỏ có nắp đậy kích thước 0,094 x 0,082 x 0,042m, số lượng: 1 cái;
  • + Điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8T 5G màu đen, kiểu máy CPH 2505, đã qua sử dụng, bên trong máy có sim số 0879164271, số lượng: 1 cái.

* Tại Kết luận giám định số 151/KL-KTHS ngày 25/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất chứa trong 02 (hai) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,2461 gam.

Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKSVT ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận đã truy tố bị cáo Phan Gi T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Gi T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Gi T từ 18 đến 24 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng sau:

  • + Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh T2, người chứng kiến niêm phong Thái Hữu Em và hình dấu tròn của Phòng K - Công an tỉnh K; ký hiệu mẫu vật vụ số 146/2024, số lượng: 1 cái;
  • + Dụng cụ sử dụng ma túy gồm một bình nhựa bên ngoài có dán băng keo màu đen, trên nắp có gắn nỏ thủy tinh màu trắng, số lượng: 1 cái;
  • + Cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng, số lượng: 1 cái;
  • + Bật lửa (hột quẹt ga) đã qua sử dụng, số lượng: 1 cái;
  • + Khây giấy màu xanh kích thước 0,175 x 0,125 x 0,025m, số lượng: 1 cái;
  • + Hộp giấy màu đỏ có nắp đậy kích thước 0,094 x 0,082 x 0,042m, số lượng: 1 cái;

Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước vật chứng: Điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8T 5G màu đen, kiểu máy CPH 2505, đã qua sử dụng, bên trong máy có sim số 0879164271, số lượng: 1 cái.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Đối với việc vắng mặt của người làm chứng Phan Văn T1, Nguyễn Thị Bé N đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án, xét thấy không trở ngại đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ các Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt Phan Văn T1, Nguyễn Thị Bé N.

[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phan Gi T đã khai nhận toàn bộ hành vi. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 20 phút, ngày 19/02/2024 Phan Gi T có hành vi cất giấu 02 bịch nylon chứa chất ma tuý trong phòng ngủ, loại Methamphetamine với tổng khối lượng là 2,2461 gam; khi thực hiện hành vi bị cáo đã đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo Phan Gi T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử cần có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Song, xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Qua phân tích, xét thấy cần phải xử bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tập trung để cơ quan chức năng cải tạo, giáo dục bị cáo là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu huỷ các vật chứng là vật cấm lưu hành, công cụ dùng vào việc phạm tội, gồm:

  • + Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh T2, người chứng kiến niêm phong Thái Hữu Em và hình dấu tròn của Phòng K - Công an tỉnh K; ký hiệu mẫu vật vụ số 146/2024, số lượng: 1 cái.
  • + Dụng cụ sử dụng ma túy gồm một bình nhựa bên ngoài có dán băng keo màu đen, trên nắp có gắn nỏ thủy tinh màu trắng, số lượng: 1 cái;
  • + Cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng, số lượng: 1 cái;
  • + Bật lửa (hột quẹt ga) đã qua sử dụng, số lượng: 1 cái;
  • + Khây giấy màu xanh kích thước 0,175 x 0,125 x 0,025m, số lượng: 1 cái;
  • + Hộp giấy màu đỏ có nắp đậy kích thước 0,094 x 0,082 x 0,042m, số lượng: 1 cái;

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8T 5G màu đen, kiểu máy CPH 2505, đã qua sử dụng, bên trong máy có sim số 0879164271, số lượng: 1 cái do điện thoại bị cáo Phan Gi T sử dụng liên lạc mua ma túy.

[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phan Gi T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Gi T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, tính kể từ ngày 19/02/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  4. Tịch thu, tiêu hủy:

    • + Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh T2, người chứng kiến niêm phong Thái Hữu Em và hình dấu tròn của Phòng K - Công an tỉnh K; ký hiệu mẫu vật vụ số 146/2024, số lượng: 1 cái;
    • + Dụng cụ sử dụng ma túy gồm một bình nhựa bên ngoài có dán băng keo màu đen, trên nắp có gắn nỏ thủy tinh màu trắng, số lượng: 1 cái;
    • + Cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng, số lượng: 1 cái;
    • + Bật lửa (hột quẹt ga) đã qua sử dụng, số lượng: 1 cái;
    • + Khây giấy màu xanh kích thước 0,175 x 0,125 x 0,025m, số lượng: 1 cái;
    • + Hộp giấy màu đỏ có nắp đậy kích thước 0,094 x 0,082 x 0,042m, số lượng: 1 cái;

    Tịch thu nộp ngân sách nhà nước vật chứng: Điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8T 5G màu đen, kiểu máy CPH 2505, đã qua sử dụng, bên trong máy có sim số 0879164271, số lượng: 1 cái.

    (Hiện các vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện V đang quản lý theo biên bản giao nhận ngày 10/5/2024).

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 6; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phan Gi T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Vĩnh Bình Nam;
  • - VKSND huyện Vĩnh Thuận;
  • - CA huyện Vĩnh Thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Thuận;
  • - Tòa án tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Phòng (PV27) CA tỉnh KG;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kiều Diễm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger