|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2024/HSST Ngày 28/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM – TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Đại.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hạnh.
Bà Mã Thị Sen.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Triệu Giang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Vi Văn Luận - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn và điểm cầu thành phần: Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm rút kinh nghiệm trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2024/HSST ngày 22 tháng 7 năm 2024 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Lý Văn H, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 09/10/1994; nơi sinh: Huyện P, tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Sán Chỉ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn B, đã chết, con bà Bàn Thị S, sinh năm 1962; vợ: Đặng Thị L - Sinh năm 1991 ( Đã ly hôn); con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền sự: Không; tiền án: 01. Bị Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tuyên phạt 07 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2018/HS-ST ngày 25/10/2018.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/4/2024 đến 04/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, thì được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được triệu tập đến điểm cầu trung tâm:
- Ông Nông Văn V, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Có đơn xin vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Bà Ma Thị Anh T - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Hỗ trợ phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần. Có mặt.
Ông Nguyễn Thế A - Kiểm tra viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Hỗ trợ phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 30 phút ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại khu vực cầu T, thuộc thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang Lý Văn H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại thời điểm bắt quả tang, Lý Văn H đã ném 02 gói nhỏ xuống bụi cỏ trước mặt mình. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ tại hiện trường 02 gói nhỏ đều được gói bằng giấy có in chữ, bên trong đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột, đã niêm phong vào trong phong bì ký hiệu H4 và thu giữ 01 điện thoại di động cùng số tiền 1.470.000đ.
Số chất màu trắng trong phong bì ký hiệu H4 được tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Tại biên bản cân xác định khối lượng chất nghi ma túy hồi 20 giờ 30 phút ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P xác định: Chất màu trắng dạng cục và bột nghi là ma túy trong phong bì niêm phong ký hiệu H4 có khối lượng là 0,12g (không phẩy mười hai gam), sau khi cân khối lượng, toàn bộ chất màu trắng nghi là ma túy được niêm phong vào phong bì ký hiệu G1 để gửi giám định. Giấy gói, vỏ phong bì cũ ký hiệu H4 được niêm phong vào phong bì ký hiệu G2 để bảo quản theo quy định.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 88/QĐ-CSĐT ngày 25/4/2024 để xác định khối lượng, loại ma túy.
Tại kết luận giám định số 145/KL-KTHS ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu G1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (heroin), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu G1 có khối lượng là 0,12g (không phẩy mười hai gam).
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Lý Văn H khai nhận: H đang chăm sóc mẹ bị ốm tại nhà cũ của H tại thôn N, xã B, huyện P. Buổi sáng ngày 25/4/2024, H đi bộ từ thôn N, xã B, huyện P đến thôn N, xã B, huyện P tìm và mua được 02 gói ma túy loại heroine giá 300.000 đồng với một người đàn ông tự xưng tên là V, mục đích mua để bản thân sử dụng, sau khi mua được ma túy H đi về nhà tại thôn N, xã B, huyện P. Khoảng 16 giờ cùng ngày, H cầm theo 02 gói ma túy trong tay trái, đi bộ đến đầu cầu T thuộc thôn N, xã B, huyện P mục đích tìm chỗ để sử dụng ma túy. Khi đang ngồi tại mép đường bê tông đầu cầu treo thì bị tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang, khi bị bắt H ném 02 gói ma túy trong tay trái xuống bụi cỏ cạnh chỗ H đang ngồi, sau đó bị Cơ quan Công an thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.
Tiến hành xác minh xác định tại thôn N, xã B, huyện P có người tên Nông Văn V sinh năm 1982. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp người và nơi ở của Nông Văn V, thu giữ của 01 điện thoại di động và số tiền 2.370.000 đồng của V.
Vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án bao gồm:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu nâu tím, loại máy màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, số imei 1 là 352976240732656, số imei 2 là 354045840732652, bên trong lắp 01 thẻ sim nhà mạng Vinaphone, số thuê bao 0812.840.xxx.
- Số tiền 1.470.000 đồng, tạm giữ của Lý Văn H, niêm phong trong phong bì ký hiệu N.
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu T89, bên trong chứa phong bì, bao gói cũ cùng mẫu ma túy hoàn trả sau giám định.
- 01 phong bì ký hiệu G2, bên trong chứa giấy gói cùng vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu H4.
Các vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản theo quy định.
Quá trình giải quyết, Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Nông Văn V sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, máy đã qua sử dụng và số tiền 2.370.000 đồng, đều là tài sản của ông Nông Văn V, không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về kết quả cân xác định khối lượng; kết quả giám định chất ma túy.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSPN ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm đã truy tố đối với Lý Văn H theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự về tôi "Tàng trữ trái phép chất ma túy.". Điều luật có nội dung:
- Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
...
c) Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
...
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm trong phần luận tội đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về hình phạt bổ sung; không áp dụng; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T89, bên trong chứa phong bì, bao gói cũ cùng mẫu ma túy hoàn trả sau giám định; 01 phong bì ký hiệu G2, bên trong chứa giấy gói cùng vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu H4.
- Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu nâu tím, loại máy màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, số imei 1 là 352976240732656, số imei 2 là 354045840732652, bên trong lắp 01 thẻ sim nhà mạng Vinaphone, số thuê bao 0812.840.xxx và số tiền 1.470.000 đồng, tạm giữ của Lý Văn H. Cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì với quyết định truy tố và luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy mình đã vi phạm pháp luật và mong muốn Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C huyện P, tỉnh Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,12 gam ma tuý, loại heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[3] Xét tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nớc về các chất ma túy, làm gia tăng tình hình tội phạm trên địa bàn. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trong khi bị cáo có đầy đủ năng lực về trách nhiệm hình sự. Vì vậy cần phải có một bản án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm đảm bảo giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Hội đồng xét xử xét thấy, việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
[4] Về nhân thân: Bị cáo Lý Văn Hiếu s ra và lớn lên tại huyện P, tỉnh Bắc Kạn, được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 5/12 thì nghỉ học lao động tự do. Ngày 25/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tuyên phạt 07 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", ngày 29/8/2023 chấp hành xong hình phạt trở về đại phương. Do bản tính thích ăn chơi đua đòi, coi thường pháp luật nên đã tái nghiện ma túy. Ngày 25/4/2024 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị khởi tố bị can ngày ngày 04/5/2024, bị tạm giữ từ ngày 25/4/2024 đến 04/5/2024 thì được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Bị cáo có nhân thân xấu.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm điểm s khoản 1 Điều 51. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Hội đồng xét xử xét thấy bản cáo trạng số 15/CT-VKSPN ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố đối với Lý Văn H theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[7] Về các nội dung đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa gồm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng; xử lý vật chứng theo quy đinh của pháp luật; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định. Các nội dung đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.
[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo, không có tài sản và thu nhập, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền nên không áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
9] Về vật chứng:
- Số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T89, bên trong chứa phong bì, bao gói cũ cùng mẫu ma túy hoàn trả sau giám định; 01 phong bì ký hiệu G2, bên trong chứa giấy gói cùng vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu H4, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu nâu tím, loại máy màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, số imei 1 là 352976240732656, số imei 2 là 354045840732652, bên trong lắp 01 thẻ sim nhà mạng Vinaphone, số thuê bao 0812.840.xxx là của bị cáo sử dụng để liên lạc nhưng không sử dụng vào thực hiện hành vi phạm tội. Nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
- Số tiền 1.470.000 đồng, tạm giữ của Lý Văn H, là tiền do bị cáo lao động mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo. Nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Việc xử lý vật chứng như trên là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
Đối với người đàn ông tên V bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không có căn cứ xác định họ tên, địa chỉ, do vậy không có căn cứ để xử lý.
Đối với Nông Văn V - Sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã B, huyện P, kết quả đấu tranh không chứng minh được V có liên quan đến hành vi phạm tội của Lý Văn H, nên không có căn cứ để xử lý.
[10] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nhưng không có đơn xin miễn án phí nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
- Tịch thu tiêu hủy số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T89, bên trong chứa phong bì, bao gói cũ cùng mẫu ma túy hoàn trả sau giám định; 01 phong bì ký hiệu G2, bên trong chứa giấy gói cùng vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu H4.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu nâu tím, loại máy màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, số imei 1 là 352976240732656, số imei 2 là 354045840732652, bên trong lắp 01 thẻ sim nhà mạng Vinaphone, số thuê bao 0812.840.xxx.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 1.470.000 đồng. Nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng Điều 38, Điều 50, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo 18 (mười tám) tháng tù, được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 25/4/2024 đến 04/5/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Số lượng và tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/7/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pác Nặm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự."
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. /.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Tiến Đại |
Bản án số 16/2024/HSST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM – TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 16/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM – TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H tàng trữ trái phép chất ma túy
