|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH TỈNH HÀ GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2023/HS-ST
Ngày 27-12-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đạng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lệnh Đức Tuyến, bà Phạm Thị Thỏa.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hữu Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Lài - Kiểm sát viên.
Ngày 27/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2023/TLST-HS ngày 21/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HS ngày 13/12/2023 đối với các bị cáo:
- Cháng A N; sinh ngày 20/9/1990, tại xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; CCCD số: [...], cấp ngày 25/8/2021; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cháng A (đã chết) và bà Vàng Thị S (đã chết); vợ: Không có (chung sống như vợ chồng với bà Tẩn Thị T, sinh năm 1992, trú tại thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang); con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/5/2022 bị công an xã M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vô ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác, đã nộp phạt xong và được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 24/9/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
- Tẩn A T1; sinh ngày 10/8/2005, tại xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; CCCD số: [...], cấp ngày 25/8/2021; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tẩn A B (đã chết) và bà Cháng Thị G; sinh năm: 1977; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện H, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
- Tẩn A K; sinh ngày 19/3/1983 tại xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; CCCD số: [...], cấp ngày 04/11/2022; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tẩn A H, sinh năm 1962 và bà Tẩn Thị C, sinh năm 1961; vợ: không có (chung sống như vợ chồng với bà Tẩn Thị L, sinh năm 1986, trú tại: Thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang); con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện H, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
- Lý A B1; sinh ngày 04/9/1969 tại xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; CCCD số: [...], cấp ngày 12/7/2021; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý A Q (đã chết) và bà Xìn Thị C1 (đã chết); vợ: Không (chung sống với bà Sìn Thị N1; sinh năm: 1966 không có đăng ký kết hôn); con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện H, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
- Lý A Đ; sinh ngày 17/7/1982 tại xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; CCCD số: [...], cấp ngày 12/7/2021; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý A C2 (đã chết) và bà Lý Thị C3, sinh năm 1943 (đã chết); có vợ: Chảo Thị D, sinh năm: 1974; và con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện H, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
- Cháng A C4; sinh ngày 16/3/2002 tại xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; CCCD số: [...], cấp ngày 25/8/2021; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cháng A, sinh năm 1975 và bà Phàn Thị N2; sinh năm: 1975; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện H, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
- - Người bào chữa cho các bị cáo Lý A B1, Cháng A: Bà Lục Thị Thủy L1 – Trợ giúp phiên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt.
- - Người bào chữa cho các bị cáo Tẩn A K1, Lý A Đ: Bà Bùi Thị H1 – Trợ giúp phiên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt.
- - Người bào chữa cho các bị cáo Tẩn A T2, Cháng A: Bà Nguyễn Thị Lan H2 – Trợ giúp phiên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Công T3, sinh năm 1985; nơi công tác: Công an huyện Y, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
- + Người làm chứng: Bà Hà Thị N3. Vắng mặt không có lý do; cháu Cháng A C5. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Người đại diện hợp pháp của người làm chứng Cháng A: Ông Cháng A K2. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Người phiên dịch tiếng dân tộc Dao: Ông Phàn A C6; địa chỉ: Tổ D, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Thực hiện kế hoạch công tác tuần tra số 02/KH-CSGT ngày 18/09/2023 (từ ngày 18/09/2023 đến ngày 24/09/2023) của Đội cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện Y. Sáng ngày 24/9/2023 tổ công tác Đội cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện Y, tỉnh Hà Giang, gồm các đồng chí: Đại úy Hoàng Văn Q1 - Tổ trưởng; Đại úy Lục Xuân Đ1, Thiếu tá Nguyễn Mạnh H3, Trung úy Trương Công T3 và Đại úy Ngô Văn H4 cùng thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm giao thông đường bộ tại địa bàn xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Đến hồi 07 giờ ngày 24/9/2023 khi đồng chí Trương Công T3 (mặc trang phục của lực lượng cảnh sát giao thông) và Ngô Văn H4 (mặc trang phục của lực lượng cảnh sát nhân dân) tuần tra kiểm soát bằng xe mô tô chuyên dụng, biển kiểm soát: 23B1-003.71 đến khu vực đường trước cổng chợ trung tâm xã M, thuộc thôn P, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang, phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: BLADE, màu sơn: xanh đen, biển kiểm soát 23M1-156.68, đi từ hướng từ huyện M ra huyện Y do cháu Cháng A C5, sinh ngày 27/12/2006 điều khiển chở người ngồi sau là Tẩn A H5, sinh ngày 10/9/2010 cùng trú tại thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang, cả hai người không đội mũ bảo hiểm. Khi phát hiện vi phạm, đồng chí Ngô Văn H4 đã ra hiệu lệnh dừng phương tiện để kiểm tra thì Cháng A C5 đã giảm tốc độ nhưng sau đó lại tiếp tục tăng ga bỏ chạy đi vào trong chợ, nơi đang diễn ra họp chợ phiên. Thấy vậy, đồng chí T3 và đồng chí H4 đi theo và tiếp tục yêu cầu Cháng A dừng phương tiện để tránh xảy ra va chạm giao thông trong chợ, nhưng C5 vẫn không chấp hành hiệu lệnh mà tiếp tục điều khiển xe đi vào trong chợ sau đó va chạm với một số người dân và làm hư hỏng một số hàng hóa trong chợ, đồng chí T3 và đồng chí H4 đã xuống xe đi bộ theo và giữ được xe của C5. Lúc này bà Sùng Thị D1, sinh năm 1972, trú tại thôn P, xã M, huyện Y, người bị C5 điều khiển xe mô tô va vào hàng hóa của bà đang bầy bán trong chợ ra và yêu cầu bồi thường thiệt hại số hàng hóa do C5 đâm vào, trong khi đồng chí T3 đang giải thích cho bà D1 thì Cháng A C5 cùng Cháng A N4, sinh năm 1990 và Tẩn A T1, sinh năm 2005 cùng trú tại thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang, đến và có hành động chỉ tay, dùng tay kéo, chửi bới đồng chí T3, sau đó Cháng A N4 hô hoán người dân giữ đồng chí T3 lại. Lúc đó, đồng chí T3 thấy Cháng A N4, Cháng A và Tẩn A T2 đi theo đồng chí T3 và có nhiều người dân vây quanh, nên đồng chí T3 đã đi ra khu vực ngoài cổng chợ để ra ngoài, thấy đồng chí T3 di chuyển, Cháng A quay vào trong chợ còn Cháng A, Tẩn A T2 tiếp tục theo sát chửi bới và có hành động kéo, giữ đồng chí T3 lại, do thấy có nhiều người đến vây quanh đồng chí T3 và nghe thấy tiếng chửi bới, hô hoán nên để thoát khỏi đám đông, đồng chí T3 đã dùng súng bắn đạn cao su được trang bị bắn chỉ thiên lên trời 01 (một) phát rồi chạy ra hướng đường tỉnh lộ 176 đi theo hướng ra thị trấn Y để tránh sự truy đuổi. Sau khi đồng chí T3 chạy ra ngoài đường, Cháng A, Tẩn A T2 tiếp tục đuổi theo, lúc này Lý A B1, sinh năm 1969, Cháng A C4, sinh năm 2002, Tẩn A K1, sinh năm 1983, Lý A Đ, sinh năm 1982 đều trú tại thôn L, xã M, huyện Y đi đến cùng N4 và T2 đuổi theo, hô hoán và kéo đồng chí T3, Tẩn A K1 thì nhặt 01 (một) đoạn cây trên đường ném về phía đồng chí T3 nhưng không trúng, Cháng A N4 và mọi người tiếp tục đuổi theo dùng tay kéo tay giữ đồng chí T3 không cho đồng chí T3 chạy, nên đồng chí T3 tiếp tục dùng súng bắn đạn cao su bắn chỉ thiên lần thứ hai nhưng các đối tượng vẫn không dừng lại mà càng hung hăng hơn và có lời nói thách thức đồng chí T3, trong lúc đồng chí T3 đang chạy trên đường T thì Cháng A N4 vừa đuổi theo vừa dùng tay kéo, giữ đồng chí T3 lại, Tẩn A K1 thì nhặt 01 (một) hòn đá ở trên đường và đuổi theo để đe dọa, còn Cháng A C7 cũng cầm 01 (một) nửa viên gạch chạy đuổi theo để đe dọa đồng chí T3. Lúc này, thấy nhiều người chạy đuổi theo đồng chí T3 và hô hào “đánh đi, đánh đi” (không xác định được cụ thể là người nào), Thào Sính C8, sinh năm 1986, trú tại thôn P, xã M Huyện Y, tỉnh Hà Giang cũng chạy theo hô hào là “đánh đi, đánh đi”, tiếp đó, C9 A C7 và Lý A Đ chạy đến đống cây trước cửa nhà anh Nguyễn Văn Y, sinh năm 1990 trú tại khu Phố Chợ, xã M, huyện Y nhặt mỗi người một đoạn cây đuổi theo đồng chí T3. Thấy có nhiều người dân chạy đuổi theo nên đồng chí T3 đã chạy vào nhà của bà Hà Thị N3, sinh năm 1956 trú tại khu Phố Chợ, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang để tránh sự truy đuổi nhưng Cháng A N4 và Lý A B1 vẫn tiếp tục dùng tay kéo giữ người đồng chí T3, đồng chí T3 giằng co chạy được vào trong nhà. Khi thấy đồng chí T3 chạy vào trong nhà bà Hà Thị N3 thì C9 A N4 vẫn đuổi theo trong nhà được một đoạn rồi quay lại lấy đoạn cây từ tay Cháng A C7 đang cầm đứng trước cửa và tiếp tục đi vào trong nhà bà N5 để đuổi đánh đồng chí T3, sau đó Cháng A C7 tiếp tục quay sang lấy một đoạn cây khác từ Lý A Đ đang cầm và đứng trước cửa nhà bà N3. Lúc này, bà N3 ngăn cản và đuổi N4 ra bên ngoài và đóng cửa lại nên Cháng A N4, Tẩn A T2, Lý A B1, Cháng A, Tẩn A K3, Lý A Đ ở bên ngoài đợi một lúc, nhưng bà N3 không mở cửa nên đã tự giải tán.
Sau khi xảy ra sự việc Công an xã Mậu Duệ đã tiến hành lập biên bản sự việc, tiến hành xác minh ban đầu, đồng thời báo cáo sự việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y. Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã phối hợp với cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan, điều tra xác minh theo quy định.
Quá trình các bị cáo thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ đã được một số người dân đi theo và quay video lại toàn bộ nội dung vụ việc. Cơ quan điều tra đã thu giữ được hình ảnh video để phục công tác điều tra.
Ngày 06/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số: 37/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng K4 Công an tỉnh T giám định Kỹ thuật số và điện tử. Tại Kết luận giám định số 1333/KL-KTHS, ngày 10/11/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh T, kết luận:
- “1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong video ký hiệu M1, M2, M3 gửi giám định
- Không đủ cơ sở xác định file video gửi giám định ký hiệu M4 có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hay không, do đó không tiến hành các bước giám định tiếp theo
- 2. Đặc điểm về người, đồ vật, diễn biến sự việc, hành động của những người liên quan trong video ký hiệu M1 gửi giám định trong khoảng thời gian từ 7 giờ 00 phút 30 giây đến 07 giờ 13 phút 00 giây (theo thời gian hiển thị của video) và video ký hiệu M2, M3 được mô tả chi tiết trong bản ảnh giám định kèm theo”
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hà Giang đã phối hợp với cơ quan chức năng tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể của đồng chí Trương Công T3 phát hiện trên cánh tay phải có 03 vết xước cụ thể viết thứ nhất dài 3cm, rộng 0,5cm; vết thứ hai dài 05cm, rộng 0,5cm và vết thứ 3 dài 3,5cm rộng 0,5cm. Ngày 06/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số: 38/QĐ-ĐTTH trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh H giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Trương Công T3 nhưng ngày 07/10/2023 ông T3 đã có đơn từ chối không giám định thương tích.
Bản Cáo trạng số: 18/CT-VKS ngày 20/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang đã truy tố các bị cáo Cháng A, Tẩn A T2. Tẩn A K, Lý A B1; Lý A Đ, Cháng A về tội chống người thi hành công vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản cáo trạng đã nêu.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tuyên bố các bị cáo Cháng A, Tẩn A T2. Tẩn A K, Lý A B1, Lý A Đ, Cháng A về tội chống người thi hành công vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015.
- - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS năm 2015, đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo Cháng A từ 06 tháng đến 09 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 36, Điều 58 BLHS năm 2015, đề nghị HĐXX tuyên phạt các bị cáo Tẩn A K1, Lý A B1 từ 18 đến 24 tháng tháng cải tạo không giam giữ; tuyên phạt các bị cáo Tẩn A T2, Lý A Đ, Cháng A từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập giải quyết.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 cuả BLHS; điểm a, c khoản 2 điều 106 của BLTTHS năm 2015 đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đoạn cây kích thước (70 x 2) cm; 01 (một) đoạn cây kích thước (1,3m x 3,5cm); 01 (một) cục Đ2 (09 x 08 x 05) cm; 02 (hai) vỏ đạn bằng kim loại chiều dài 05cm; đường kính 01cm.
- - Về án phí: Đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
Những người bào chữa cho các bị cáo có quan điểm: Việc điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Cháng A, Tẩn A T2, Tẩn A K1, Lý A B1, Lý A Đ, Cháng A về tội chống người thi hành công vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, luận tội của Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, những người bào chữa cho các bị cáo đều đề nghị HĐXX xem xét xử phạt các bị cáo theo mức khởi điểm theo đề nghị tại bản luận tội; những vấn đề khác đều nhất trí theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Các bị cáo Cháng A N4, Tẩn A T2, Tẩn A K1, Lý A B1, Lý A Đ, Cháng A nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát không có tranh luận đối đáp gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Công T3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xin xét xử vắng mặt và có quan điểm: Đề nghị HĐXX xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của pháp luật; về trách nhiệm dân sự không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.
Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm: Các bị cáo, những người bào chữa cho các bị cáo đều nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát do vậy, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt điều đó thể hiện bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị các về tội danh điều luật nêu trên là đúng người đúng pháp luật. Do vậy đại diện Viện kiểm sát không có tranh luận đối đáp gì thêm.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung bào chữa của người bào chữa, nghe lời khai của các bị cáo và ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do người bào chữa, các bị cáo, người tham gia tố tụng cung cấp trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, không có khiếu nại, tố cáo. Do đó, những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do người bào chữa, các bị cáo, người tham gia tố tụng cung cấp trong quá trình điều tra, truy tố trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng Cháng A, người đại diện hợp pháp của người làm chứng Cháng A C5, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên tất cả đều có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm yêu cầu gửi cho Tòa án; đối với người làm chứng Hà Thị N3 vắng mặt không có lý do tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai lưu trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt những người nêu trên.
- Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có lưu trong hồ sơ đã xác định được: Khoảng 07 giờ ngày 24/9/2023 tại khu vực chợ T4 xã M và khu vực đường T hướng M - Y thuộc địa phận thôn P, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Đồng chí Trương Công T3 và đồng chí Ngô Văn H4 đang tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ phát hiện Cháng A C5 điều khiển xe mô tô vi phạm luật giao thông đường bộ nên đã ra hiệu lệnh cho C5 dừng xe để xử lý, nhưng C5 không chấp hành mà tiếp tục điều khiển xe đi vào trong chợ đâm vào một số người dân và gian hàng trong chợ, đồng chí T3 đã đi theo để yêu cầu C5 dừng lại để xử lý theo quy định nhưng sau đó Cháng A N4, Tẩn A T2, Tẩn A K1, Lý A B1, Lý A Đ, Cháng A C7 đã đi theo chửi bới, kéo, xô đẩy, nhặt đá, gậy ở cạnh đường ném về phía đồng chí T3 nhằm đe dọa và không cho đồng chí T3 thực hiện nhiệm vụ. Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan Nhà nước về quản lý hành chính, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội trên địa bàn và cản trở người thi hành nhiệm vụ được pháp luật bảo vệ; đã đủ yếu tố cấu thành tội chống người thi hành công vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến nếp sống văn minh, trật tự công cộng, gây dư luận xấu trong nhân dân, làm mất trật tự trị an tại địa phương, trong khi các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nên có thể nhận thức được hành vi ngăn cản, cản trở người thực thi nhiệm vụ công vụ vì bất kỳ mục đích gì đều bị pháp luật xử lý nghiêm minh, tuy nhiên các bị cáo vẫn cố ý phạm tội; do vậy, cần xử lý các bị cáo bằng biện pháp hình sự, với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện, nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm.
- Về vai trò hành vi phạm tội: Các bị cáo phạm tội không có tổ chức, chỉ là đồng phạm giản đơn; các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, cụ thể: Quá trình thực hiện hành vi phạm tội bị cáo C9 A N4 là người đã hô hào và thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ từ đầu và quyết liệt nhất, nên Cháng A N4 là bị cáo đầu vụ; các bị cáo Tẩn A T2, Tẩn A K1, Lý A B1, Lý A Đ, Cháng A khi thấy N4 thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ nên cũng đã tham gia giúp sức tích cực cho N4 bằng cách chạy đuổi theo, ngăn cản đồng chí T3 chạy, kéo tay và có những hành động như ném đoạn cây, cầm gậy, cầm đá đuổi theo, lời nói nhằm đe dọa người đang thi hành công vụ là đồng chí Trương Công T3 nên là đồng phạm với vai trò vừa là người thực hành vừa là người giúp sức tích tực tạo điều kiện tinh thần cho N4 thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của các bị cáo là bộc phát, không có sự cấu kết bàn bạc, phân công nhiệm vụ từ trước.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Cháng A, Tẩn A T2, Tẩn A K1, Lý A B1, Lý A Đ, Cháng A được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình như là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoảng 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Các bị cáo Tẩn A T2, Tẩn A K1, Lý A B1, Lý A Đ và Cháng A có nhân thân tốt; bị cáo Cháng A N4 có nhân thân ngày 10/5/2022 bị công an xã M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vô ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác, đã nộp phạt xong và được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; đối với bị cáo C9 A N4 là người khởi xướng việc hô hào để mọi người tham gia việc chống người thi hành công vụ nên cần có mức án nghiêm khắc nhất cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cũng như công tác phòng ngừa tội phạm; đối với các bị cáo Tẩn A T2, Tẩn A K1, Lý A B1, Lý A Đ, Cháng A đều là đồng phạm có vai trò không đáng kể, đều có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, ngoài lần phạm tội này các bị cáo chấp hành đầy đủ chính sách pháp luật nhà nước, quy định địa phương nơi cư trú nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt các bị cáo với hình phạt cải tạo không giam giữ, giao về địa phương theo dõi, giám sát, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, thể hiện tính khoan hồng và nghiêm minh của pháp luật.
- Biện pháp tư pháp: Cần áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quyết định tạm giam bị cáo Cháng A (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Về việc khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước, tuy nhiên xét thấy các bị cáo Tẩn A T2, Tẩn A K1, Lý A B1, Lý A Đ, Cháng A đều không có nghề nghiệp, thu nhập thấp và không ổn định, đều là người thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hoàn cảnh gia đình đều thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, khó khăn, do vậy miễn việc khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
- Về áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng: Các bị cáo Tẩn A T2, Tẩn A K1, Lý A B1, Lý A Đ, Cháng A phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Điều 106 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015. Để tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đoạn cây kích thước (70cm x 2cm); 01 (một) đoạn cây kích thước (1,3m x 3,5cm); 01 (một) cục đá bê tông kích thước (09cm x 08cm x 05cm); 02 (hai) vỏ đạn bằng kim loại chiều dài 05cm; đường kính 01cm vì là vật chứng nhưng không có giá trị sử dụng.
- Về án phí: Các bị cáo đều là dân tộc thiểu số sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc bệt khó khăn và đều đã có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo.
- Đối với hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi chưa đủ điều kiện của Cháng A C5, cơ quan Công an đã xử lý vi phạm hành chính về hành vi này, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
- Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, những người bào chữa tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Cháng A, Tẩn A T2, Tẩn A K1, Lý A B1, Lý A Đ, Cháng A phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Về hình phạt:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Cháng A (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 24/9/2023.
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quyết định tạm giam bị cáo Cháng A (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt các bị cáo Tẩn A K1, Lý A B1 mỗi bị cáo 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt các bị cáo Tẩn A T2, Lý A Đ, Cháng A mỗi bị cáo 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
- Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Y, tỉnh Hà Giang nhận được quyết định thi hành án. Giao các bị cáo Tẩn A T2, Tẩn A K1, Lý A B1, Lý A Đ, Cháng A cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang để giám sát, giáo dục; gia đình những người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp người chấp hành án vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Tẩn A T2, Tẩn A K1, Lý A B1, Lý A Đ, Cháng A.
- Buộc các bị cáo Tẩn A T2, Tẩn A K1, Lý A B1, Lý A Đ, Cháng A phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đoạn cây kích thước (70cm x 2cm); 01 (một) đoạn cây kích thước (1,3m x 3,5cm); 01 (một) cục đá bê tông kích thước (09cm x 08cm x 05cm); 02 (hai) vỏ đạn bằng kim loại chiều dài 05cm; đường kính 01cm.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
(Tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Điều tra Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Minh lập ngày 21/11/2023).
Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo, mỗi bị cáo được miễn là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Đạng |
Bản án số 16/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG về chống người thi hành công vụ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 16/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cháng A N và đồng phạm "Chống người thi hành công vụ"
