Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 4 - 2024

“V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Hoàn và bà Vũ Thị Thanh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 167/2023/TLST-HNGĐ ngày 02/11/2023 về việc: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QÐST-HNGĐ ngày 01/4/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1983;

    Nơi thường trú: khu Đ, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: khu K, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

  2. Bị đơn: Anh Vũ Văn D, sinh năm 1975;

    Nơi thường trú: khu Đ, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh - Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với anh Vũ Văn D đăng ký kết hôn ngày 22/8/2022 tại UBND phường C. Trước đó vào năm 2021 tôi đã ly hôn với anh Vũ Văn D, nhưng vì thương các con tôi quay lại với anh Vũ Văn D. Nhưng từ ngày hai vợ chồng quay lại với nhau chúng tôi vẫn không được hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Tôi cũng nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm chăm sóc giúp đỡ nhau, việc ai người đó làm. Hiện nay vợ chồng tôi đang sống ly thân. Đến nay những thực sự sâu sắc, trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Nay tôi đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Vũ Văn D.

- Về con chung: Tôi với anh Vũ Văn D có 04 (Bốn) người con chung là: Vũ Văn Tuấn A, sinh ngày 22/9/2001; Vũ Tuấn L, sinh ngày 24/10/2004; Vũ Tuấn N, sinh ngày 6/10/2006; Nguyễn Nguyên V, sinh ngày 19/6/2023. Nay ly hôn, đề nghị Tòa án giao cho tôi trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nguyễn V, sinh ngày 19/6/2023 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Vũ Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung cháu Vũ Tuấn N, sinh ngày 6/10/2006 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hai con chung là Vũ Văn Tuấn A sinh ngày 22/9/2001 và Vũ Tuấn L sinh ngày 24/10/2004 đã thành niên, không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Về tài sản chung: Tôi với anh Vũ Văn D tự thỏa thuận không yêu cầu tòa giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã lấy lời khai của chị M về việc con chung cháu Nguyễn Nguyên V là con chung của chị M và anh V mang họ Nguyễn, chị M khai: Trong thời gian chung sống có sảy ra nhiều mâu thuẫn nên khi sinh cháu Nguyễn Nguyên V chị M lấy họ của cháu theo họ của chị M.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật cho anh Vũ Văn D (anh D đã trực tiếp nhận các văn bản tố tụng và ký nhận) nhưng anh Vũ Văn D không có mặt tại các phiên họp và các buổi làm việc vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày quan điểm về việc chị M khởi kiện yêu cầu ly hôn và nuôi con chung.

Tại Biên bản xác minh ngày 02/01/2024, đại diện chính quyền khu Đ, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cung cấp: Chị Nguyễn Thị M và anh Vũ Văn D kết hôn ngày 22/8/2022 tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Trước đó cả hai đã từng ly hôn 1 lần. Sau này kết hôn lại và về chung sống tại khu Đ, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Trong quá trình chung sống cả 2 không yêu cầu khu hòa giải mâu thuẫn, khu chỉ biết vợ chồng có sảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cả 2 không còn chung sống với nhau. Nay chị M yêu cầu giải quyết ly hôn, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: Chị M và anh D có 04 (Bốn) người con chung là: Vũ Văn Tuấn A, sinh ngày 22/9/2001; Vũ Tuấn L, sinh ngày 24/10/2004; Vũ Tuấn N, sinh ngày 6/10/2006 và Nguyễn Nguyên V, sinh ngày 19/06/2023. Trường hợp cả hai ly hôn đề nghị Tòa án xem xét điều kiện của hai bên để giao con cho phù hợp.

Về tài sản khu không nắm được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

I. VỀ VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG.

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án cơ bản đã thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp quy định tại Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định tư cách tham gia tố tụng đúng theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự; trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho các đương sự đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 195, 196 của Bộ luật Tố tụng dân sự; xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử, mở phiên tòa đảm bảo theo quy định tại các Điều 203, 204, 205, 206, 207, 208 và Điều 209 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:

Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm giải quyết vụ án.

3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M đã cơ bản chấp hành, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn anh Vũ Văn D chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt). Đối với bị đơn anh Vũ Văn D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

II. VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, bản tự khai của các đương sự và kết quả Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ.

Căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56; Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M. Xử chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Vũ Văn D.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nguyễn V, sinh ngày 19/6/2023 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Giao cho anh Vũ Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung cháu Vũ Tuấn N, sinh ngày 6/10/2006 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hai con chung là Vũ Văn Tuấn A sinh ngày 22/9/2001 và Vũ Tuấn L sinh ngày 24/10/2004 đã thành niên.

Về tài sản và vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Vũ Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập.

Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị M phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị M khởi kiện về việc ly hôn với anh Vũ Văn D và cung cấp các tài liệu làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Bị đơn anh Vũ Văn D có nơi cư trú tại khu Đ, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt); bị đơn anh Vũ Văn D đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2. Do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn đảm bảo đúng quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Vũ Văn D có đăng ký kết hôn từ năm 2022 cho đến nay là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Hội đồng xét xử xét thấy để cuộc sống vợ chồng hôn nhân tồn tại, mục đích hôn nhân đạt được thì phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của hai bên vợ chồng, tình cảm phải trên cơ sở tự nguyện từ hai phía, phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị Nguyễn Thị M và anh Vũ Văn D phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân, trong quá trình sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc nhau; anh Vũ Văn D vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, đã nhận trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có quan điểm về vấn đề yêu cầu ly hôn và nuôi con chung. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị M và anh Vũ Văn D đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M đối với anh Vũ Văn D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Vũ Văn D có 04 (Bốn) người con chung là: Vũ Văn Tuấn A, sinh ngày 22/9/2001; Vũ Tuấn L, sinh ngày 24/10/2004; Vũ Tuấn N, sinh ngày 06/10/2006; Nguyễn Nguyên V, sinh ngày 19/6/2023. Chị M có quan điểm trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nguyễn V, sinh ngày 19/6/2023 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); giao cho anh Vũ Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung cháu Vũ Tuấn N, sinh ngày 06/10/2006 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hai con chung là Vũ Văn Tuấn A sinh ngày 22/9/2001 và Vũ Tuấn L sinh ngày 24/10/2004 đã thành niên, không yêu cầu tòa giải quyết. Xét thấy, con chung là Nguyễn Nguyên V, sinh ngày 19/06/2023 đang ở với chị M từ bé và từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, đến nay chị M vẫn đang nuôi dưỡng và chăm sóc; con chung Vũ Tuấn N, sinh ngày 06/10/2006 đang ở với anh D từ bé và từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, đến nay anh D vẫn đang nuôi dưỡng và chăm sóc. Tại Biên bản ghi nhận quan điểm của cháu Vũ Tuấn N, sinh ngày 06/10/2006 có nguyện vọng nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu mong muốn được ở với bố, như vậy xem xét nguyện vọng nuôi con chung của chị M và nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì cháu mong muốn được ở với bố của cháu Vũ Tuấn N, sinh ngày 06/10/2006 là phù hợp; anh D vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án không có quan điểm về vấn đề con chung nhưng đã ký xác nhận vào Biên bản lấy lời khai của cháu Vũ Tuấn N, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về việc nuôi dưỡng con chung của chị M và quan điểm của cháu Vũ Tuấn N, giao con chung là Nguyễn Nguyên V, sinh ngày 19/6/2023, cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); giao con chung Vũ Tuấn N, sinh ngày 06/10/2006 cho anh Vũ Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hai con chung là Vũ Văn Tuấn A sinh ngày 22/9/2001 và Vũ Tuấn L sinh ngày 24/10/2004, cả hai con chung đều đã thành niên, không có nhược điểm về thể chất tâm thần, chị Nguyễn Thị M và anh Vũ Văn D không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết, là phù hợp với Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, chị M và anh D có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Vũ Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Vũ Văn D.
  2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nguyễn V, sinh ngày 19/6/2023 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Giao cho anh Vũ Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung cháu Vũ Tuấn N, sinh ngày 06/10/2006 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Sau ly hôn, đương sự không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đồng thời đương sự không trực tiếp nuôi dưỡng con chung không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thị M đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003788 ngày 02/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, chị Nguyễn Thị M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm ngày) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh
  • - VKSND thị xã Quảng Yên.
  • - Chi cục THADS thị xã Quảng Yên.
  • - UBND phường Cộng Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh (Nơi ĐKKH)
  • - Các đương sự.
  • - Lưu án văn + Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Phúc Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 16/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mây. Chị Nguyễn Thị Mây được ly hôn anh Vũ Văn Doãn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger