Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/DS-ST

Ngày 26 tháng 4 năm 2024

V/v: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NΑΙ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Đăng Tố

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lương Văn Nay
  2. Ông Đinh Văn Thông

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Phi Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

bà Trần Huỳnh Như T - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 66/2022/TLST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2024, về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 18/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: ông Nguyễn Lê T năm 1975. Địa chỉ: tổ A, khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: bà Lâm Thị Kim H năm 1975. Địa chỉ liên hệ: Số A, T, khu P, thị trấn L, tỉnh Đồng Nai (Theo Hợp đồng uỷ quyền công chứng số 3710, quyển số 04/2022, ngày 25-4-2022 tại Văn phòng C, (Có mặt).

  • Bị đơn: ông Nguyễn H1 T2 sinh năm 1978. Địa chỉ: số nhà G, L, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Hoàng T1 năm 1982. Địa chỉ: số nhà G, L, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
  2. Ông Nguyễn A T4 sinh năm 1976. Nơi thường trú: số nhà A, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Địa chỉ liên hệ: số D, đường N, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre, (Có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn H1 T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn A T4 ông Lê Thanh T5 sinh năm 1956. Địa chỉ: F, khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (Theo hợp đồng ủy quyền công chứng số 24, quyển số 01/2024-TP/CC-SCC ngày 03 tháng 01 năm 2024 tại Văn phòng C1 và hợp đồng ủy quyền công chứng số 05887, quyển số 12/2024-TP/CC-SCC ngày 13 tháng 12 năm 2023 tại Văn phòng C2, (Có mặt).

  1. Lâm Thị Kim H năm 1975. Địa chỉ: số nhà A, T, khu P, thị trấn L, tỉnh Đồng Nai, (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Lê T2 (do bà Lâm Thị Kim H2 diện) trình bày, tranh luận:

Cha của ông Lê T3 cụ Nguyễn Văn P năm 1946 (chết năm 2020) và mẹ là cụ Lê Thị Ả năm 1951 (chết năm 2021). Cụ P cụ Ả có 04 người con là: (1) Nguyễn Lê T1 sinh năm 1975; (2) Nguyễn A T4 sinh năm 1976; (3) Nguyễn Huy T2 sinh năm 1978; (4) Nguyên Hoàng T6 sinh năm 1982.

Quá trình chung sống cha mẹ ông Lê T2 tạo lập được khối tài sản chung là diện tích đất 55,9m² thuộc thửa 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X. Nguồn gốc đất được Ty xây dựng tỉnh Đ cấp ngày 20-8-1985, đến năm 2008 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 895237 do Ủy ban nhân dân thị xã L1 (nay là thành phố L) cấp ngày 04-5-2008.

Cha mẹ chết không để lại di chúc, sau khi cha mẹ chết thì di sản do ông Nguyễn H1 T2 quản lý, sử dụng. Anh em trong gia đình đã họp gia tộc, thoả thuận phân chia di sản thừa kế nêu trên, nhưng kết quả không thành.

Vì vậy, nay ông Lê T1 yêu cầu Toà án chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất 55,9m² thuộc thửa 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X 01 căn nhà cấp 4 xây dựng trên đất. Ông Lê T1 đồng ý với với giá đất được định giá là 5.000.000.000đ và giá nhà cấp 4 được xác định là 80.199.054đ tại Biên bản định giá tài sản ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản; yêu cầu được nhận 01 suất thừa kế bằng giá trị.

Tại đơn khởi kiện, ông Lê T4 định, ngoài diện tích đất nêu trên, cụ P1 cụ Ả2 có tài sản là diện tích đất 77,40m² thuộc thửa 210, bản đồ địa chính số 73, bản đồ địa chính thị trấn L đồng thời có yêu cầu chia thừa kế đối với di sản này.

Tuy nhiên, ngày 23-10-2023, nguyên đơn ông Lê T1 thay đổi yêu cầu khởi kiện, rút yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích đất thuộc thửa 210, bản đồ địa chính số 73, bản đồ địa chính thị trấn L cho rằng diện tích đất nêu trên không phải là di sản thừa kế của cụ P1 cụ Ả

Đối với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn H1 T2 về việc yêu cầu chia thừa kế đối với thửa 210, bản đồ địa chính số 73, bản đồ địa chính thị trấn L ông Lê T1 có ý kiến như sau: diện tích đất 77,40m² thuộc thửa 210, bản đồ địa chính số 73, bản đồ địa chính thị trấn L có nguồn gốc của cụ Nguyễn Văn T5 (là em ruột của cụ P2 năm 2001), sau khi cụ T7 chết, tài sản được giao cho cụ P3 lý, sử dụng. Tuy nhiên, cụ P4 sử dụng mà giao cho ông Lê T1 quản lý, sử dụng; năm 2007 ông Lê T6 hành xây dựng nhà trên đất. Đến năm 2014, ông P5 hành kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 235054 do Ủy ban nhân dân huyện L ngày 04-9-2014. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông P6 tục giao tài sản cho ông Lê T1 quản lý, sử dụng. Căn cứ Án lệ số 33/2020/AL, thì ông Lê T1 là người được giao quản lý, sử dụng đất; xây dựng nhà trên đất và thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước nên được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, thửa 210, bản đồ địa chính số 73, bản đồ địa chính thị trấn L phải là di sản thừa kế của cụ P cụ Ả lại.

Trong trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, chia thừa kế đối với diện tích đất 77,40m² thuộc thửa 210, bản đồ địa chính số 73, bản đồ địa chính thị trấn L T1 có nguyện vọng nhận di sản bằng hiện vật.

  1. Tại đơn phản tố đề ngày 31-10-2023, các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, cũng như tại phiên toà, bị đơn ông Nguyễn Huy T7 (do ông Lê Thanh Triều đại diện trình bày, tranh luận:

Ông H1 T2 thừa nhận và thống nhất theo lời khai của nguyên đơn về người để lại di sản, hàng thừa kế thứ nhất. Thống nhất di sản của cụ Nguyễn Văn P7 cụ Lê Thị A5 diện tích đất 55,9m² thuộc thửa 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X 01 căn nhà cấp 4 xây dựng trên đất. Nhà và đất thuộc thửa 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X từ trước đến nay do anh H1 T2 quản lý. Bản thân ông H1 T2 cũng là người thực hiện nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất đối với thửa đất này từ trước cho đến nay. Quá trình sử dụng nhà cấp 4, ông H1 T2 có tiến hành sửa chữa, cải tạo nhà nhưng việc sửa chữa, cải tạo ông không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Sau khi cha mẹ chết, ông H1 T2 cũng là người quản lý di sản, hiện làm nơi thờ cúng cha, mẹ.

Ngoài di sản nêu trên, cha ông còn có tài sản là diện tích đất 77,40m² thuộc thửa 210, bản đồ địa chính số 73, bản đồ địa chính thị trấn L nguồn gốc nhận di sản thừa kế của người bác ruột Nguyễn Văn T7 chết để lại và 01 căn nhà gỗ trên đất hiện nay không còn vì ông Lê T1 đã phá dỡ để xây dựng nhà cấp 4 như hiện nay.

Vào năm 2007, khi ông Lê T8 còn nơi ở vì đã bán nhà tại Thành phố Hồ Chí Minh để trả nợ, cha của ông mới tạo điều kiện, đồng ý cho vợ chồng anh Lê T9 làm nhà, sinh sống tại thửa đất số 210, tờ bản đồ số 73, bản đồ địa chính T cho đến nay.

Đối với nhà cấp 4 xây dựng trên thửa đất số 210, tờ bản đồ số 73, bản đồ địa chính thị trấn L T1 xây dựng vào năm 2007 là có phần công sức đóng góp của ông H1 T2 với số tiền 80.000.000 đồng, tuy nhiên việc này ông Lê T8 có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh.

Cha mẹ chết không để lại di chúc, trong thời gian chưa kịp tiến hành các thủ tục để thoả thuận phân chia di sản thừa kế thì ông Lê T10 nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế.

Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông H1 T2 đồng ý chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất thuộc thửa 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X, ông yêu cầu được nhận kỷ phần bằng hiện vật để làm nơi thờ cúng cha, mẹ, tổ tiên và để làm nơi cho anh em họp mặt với nhau mỗi dịp lễ, tết; ông H1 T2 đồng ý thanh toán giá trị di sản cho các thừa kế theo quy định của pháp luật.

Ông H1 T2 giữ nguyên yêu cầu phản tố, yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cha, mẹ là diện tích đất 77,40m² thuộc thửa 210, bản đồ địa chính số 73, bản đồ địa chính thị trấn L, đồng ý giao di sản này cho ông Lê T1 quản lý, ông Lê T11 có nghĩa vụ thanh toán giá trị cho các thừa kế theo quy định pháp luật.

Đối với kết quả đo đạc của thửa thuộc thửa 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X kết quả đo đạc thì có sự chênh lệch giữa ranh hiện trạng và ranh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, ông H1 T2 đề nghị xác định ranh giới đất theo ranh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 76,3m², trong đó phần được cấp là 55,9m², phần không được cấp là 20,4m², cam kết không thắc mắc về kết quả đo đạc.

Đối với kết luận định giá của Hội đồng định giá và Chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T28 T2 đồng ý và không có ý kiến gì.

  1. Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng T12 bày, tranh luận:

Ông H3 T3 thống nhất với lời khai của ông H1 T2 về thông tin người để lại di sản và hàng thừa kế thứ nhất. Thống nhất di sản của cụ P7 cụ Ả4 lại gồm 02 thửa đất gồm: thửa thuộc thửa 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X 01 căn nhà cấp 4 trên đất; thửa đất số 210, tờ bản đồ số 73, bản đồ địa chính thị trấn L. Ông Hoàng T3 đồng ý việc chia thừa kế các di sản nêu trên theo quy định của pháp luật, đồng ý với kết quả đo đạc, kết quả định giá, chứng thư thẩm định giá.

Nguyện vọng của ông H3 T3 được nhận chung hiện vật là phần di sản thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X 01 căn nhà cấp 4 trên đất (sở hữu chung cùng ông Huy T7).

  1. Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn A T4 (do ông Lê Thanh Triều đại diện trình bày, tranh luận:

Thống nhất với lời khai của các ông H1 T2, Hoàng T3 về thông tin người để lại di sản, hàng thừa kế thứ nhất. Thống nhất di sản của cụ P7 cụ Ả4 lại gồm 02 thửa đất gồm: thửa thuộc thửa 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X 01 căn nhà cấp 4 trên đất; thửa đất số 210, tờ bản đồ số 73, bản đồ địa chính thị trấn L. Anh Hoàng T3 đồng ý việc chia thừa kế các di sản nêu trên theo quy định của pháp luật, đồng ý với kết quả đo đạc, kết quả định giá, chứng thư thẩm định giá.

Do hiện nay ông A T3 không cư trú tại thành phố L hoặc huyện L, tỉnh Đồng Nai nên ông có nguyện vọng được nhận suất thừa kế bằng giá trị.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Kim H4 bày, tranh luận:

H5 vợ của ông Nguyễn Lê T13 và đất tại thửa đất số 210, tờ bản đồ số 73, bản đồ địa chính T là Nguyễn Văn P8 cho vợ chồng ông bà quản lý, sử dụng từ năm 2001 cho đến nay. Đến năm 2007 ông bà xây dựng nhà cấp 4 trên đất. Bà H6 nhất với ý kiến trình bày của ông Lê T4 định diện tích đất thuộc thửa 210, tờ bản đồ số 73, bản đồ địa chính thị trấn L phải là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn P7 cụ Lê Thị A6 là tài sản của bà và ông Nguyễn Lê T2. Vì vậy, bà đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn H1 T2 về việc yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích đất thuộc thửa 210, tờ bản đồ số 73, bản đồ địa chính thị trấn L.

  1. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự, đại diện đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
  • Về nội dung vụ án:

Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, cụ thể như sau:

Về tài sản thừa kế: xác định thửa đất số 210, tờ bản đồ 73 tại T đất số 87 tờ bản đồ số 9 tại khu phố D, phường X là tài sản của ông P bà Ả7 P bà Ả chết không để lại di chúc nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản được chia thừa kế theo quy định pháp luật.

Về xác định hàng thừa kế: ông P bà Ả8 04 người con ruột là Nguyễn Lê T2, N Hoàng T Anh T, ngoài ra ông bà không có con nuôi, con riêng khác. Vì vậy, căn cứ vào điểm a khoản 1, 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, 02 di sản trên được chia thành 4 phần bằng nhau cho các ông Nguyễn Lê T2, Nguyễn Huy T2, Nguyễn H7 T3Nguyễn Anh T, cụ thể đề nghị chia như sau:

  1. Đối với thửa đất số 210, tờ bản đồ 73 tại thị trấn L giá trị tài sản quyền sử dụng đất là 2.476.800.000 đồng. Do căn nhà trên đất là vợ chồng ông Lê T14 dựng, nên không tính vào di sản thừa kế để chia. Giá trị mỗi suất thừa kế là 2.476.800.000đ/4 = 619.200.000đ. Ưu tiên cho ông Nguyễn Lê T15 di sản bằng hiện vật, tiếp tục quản lý sử dụng, ông Nguyễn Lê T16 nghĩa vụ thanh toán lại giá trị tài sản cho các đồng thừa kế còn lại mỗi người là 619.200.000đ.
  2. Đối với thửa đất số 87 tờ bản đồ số 9 tại khu phố D, phường X ngôi nhà cấp 4 trên đất có từ khi cha mẹ các ông còn sống, ông H1 T2 cho rằng ông bỏ tiền ra sửa chữa, nhưng không có tài liệu chứng minh. Vì vậy, căn nhà cấp 4 trên đất được tính vào di sản thừa kế để chia. Giá trị tài sản quyền sử dụng đất 5.000.000.000 đồng, giá trị nhà cấp 4 là 80.199.054đ. Tổng giá trị tài sản 5.080.199.054đ. Như vậy, giá trị mỗi suất thừa kế là 5.080.199.054đ/4 = 1.270.049.764đ. Ưu tiên cho ông Nguyễn H1 T2 nhận di sản bằng hiện vật, tiếp tục quản lý sử dụng, ông Nguyễn H1 T2 có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị tài sản cho các đồng thừa kế còn lại mỗi người là 1.270.049.764đ.

Ông Nguyễn Hoàng T3Nguyễn A1 T4 được nhận di sản thừa kế bằng giá trị tài sản số tiền là = 619.200.000đ + 1.270.049.764đ = 1.889.249.764đ/người.

Về chi phí tố tụng: tổng số tiền chi phí tố tụng là 33.894.302đ gồm (1) chi phí thẩm định tài sản số tiền 25.000.000đ do ông Nguyễn H1 T2 tạm nộp; (2) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ quyền sử dụng đất tại L và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ quyền sử dụng đất tại phường X, thành phố L tiền 4.894.302đ, chi phí định giá số tiền 4.000.000đ do ông Lê T1 tạm nộp. Do các đồng thừa kế được hưởng kỷ phần thừa kế bằng nhau, nên chi phi tố tụng cũng phải có nghĩa vụ nộp ngang nhau. Như vậy mỗi đồng thừa kế phải chịu chi phí tố tụng 25.000.000đ + 4.894.302đ + 4.000.000đ = 33.894.302đ/4 = 8.473.575đ/người.

Về án phí: căn cứ điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mỗi đồng thừa kế phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền: 68.677.493đ/người.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Nguyên đơn ông Nguyễn Lê T2 khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với diện tích đất thuộc thửa 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X 01 căn nhà cấp 4 trên đất; bị đơn ông Nguyễn H1 T2 phản tố yêu cầu chia di sản thừa kế đối với diện tích đất thuộc thửa 210, tờ bản đồ số 73, bản đồ địa chính thị trấn L; bị đơn ông Nguyễn H1 T2 có nơi cư trú tại thành phố L, tỉnh Đồng Nai Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Long Khánh theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc thay đổi yêu cầu kiện:

Theo đơn khởi kiện ban đầu, nguyên đơn ông Lê T1 yêu cầu chia di sản thừa kế đối với 02 tài sản gồm: thửa đất số 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X 01 căn nhà cấp 4 trên đất; thửa đất số 210, tờ bản đồ số 73, bản đồ địa chính thị trấn L. Quá trình giải quyết vụ án, ông Lê T1 rút một phần yêu cầu đối với việc chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 210, tờ bản đồ số 73, bản đồ địa chính thị trấn L thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định của Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Về thời hiệu: cụ Nguyễn Văn P năm 1946 (chết năm 2020) và cụ Lê Thị Ả năm 1951 (chết năm 2021), căn cứ Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ P cụ Ả4 lại vẫn còn.

[4] Ngoài các đương sự đã tham gia tố tụng, căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thì còn có chị Nguyễn Ngọc M T8 sinh năm 1998 và Nguyễn Ngọc M H1 sinh năm 2003 là các con của nguyên đơn ông Lê T1 và bà H8 đang sinh sống tại nhà trên phần đất thửa đất số 210, tờ bản đồ số 73, bản đồ địa chính T, các chị T8H1 xác định không có công sức đóng góp gì đối với nhà và đất hiện nay đang ở, đồng thời đề nghị không đưa vào tham gia tố tụng (Bút lục 154). Xét việc giải quyết vụ án không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của các chị T8H1 nên Toà án không đưa các chị T8H1 vào tham gia tố tụng trong vụ án.

Về nội dung:

[5] Về hàng thừa kế: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự giao nộp, lời khai thừa nhận và thống nhất của các đương sự, căn cứ Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ P9 Ả như sau: ngoài 04 người con ruột, cụ P7 cụ không còn con nuôi, con riêng nào khác, các cụ thân sinh ra cụ P9 Ả chết trước, nên hàng thừa kế thứ nhất gồm 04 thừa kế là: (1) Nguyễn Lê T1 sinh năm 1975; (2) Nguyễn A1 T4 sinh năm 1976; (3) Nguyễn Huy T2 sinh năm 1978; (4) Nguyên Hoàng T6 sinh năm 1982.

[6] Xác định khối di sản:

6.1. Nguyên đơn ông Lê T4 định diện tích đất 76,3m², trong đó phần được cấp là 55,9m², phần không được cấp là 20,4m² thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X 01 căn nhà cấp 4 trên đất là di sản của cụ P7 cụ Ả4 lại. Lời khai của nguyên đơn được bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án thừa nhận, do đó đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

6.2. Bị đơn ông H1 T2 phản tố yêu cầu xác định diện tích đất 77,40m² thuộc thửa 210, bản đồ địa chính số 73, bản đồ địa chính thị trấn L yêu cầu chia thừa kế theo quy định của pháp luật; nguyên đơn phản đối cho rằng diện tích đất thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của bị đơn căn cứ vào nội dung Án lệ số 33/2020/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày 05-02-2020 và được Công bố theo Quyết định số 50/QĐ-CA ngày 25-02-2020 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

6.3. Xét về nguồn gốc đất và quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa 73, tờ bản đồ số 210, bản đồ địa chính thị trấn L diện tích đất có nguồn gốc do cụ Nguyễn Văn K (cụ nội của cụ P10 phá từ năm 1908. Năm 1945, cụ K1 lại cho cụ Nguyễn Văn V (cha ruột của cụ P sử dụng. Năm 1980, cụ V1 lại cho người anh ruột của cụ P11 cụ Nguyễn Văn T17 năm 2001, cụ T7 chết thì cụ P12 di sản của cụ T7 theo Văn bản khai nhận tài sản thừa kế 03-6-2014. Đến ngày 04-9-2014, cụ Nguyễn Văn P13 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 235054, diện tích 77,40m² thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 210, bản đồ địa chính thị trấn L. Như vậy, có căn cứ để xác định, diện tích đất thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 210, bản đồ địa chính thị trấn L tài sản hợp pháp của cụ Nguyễn Văn P cụ P14 không để lại di chúc, nên xác định thửa đất nêu trên là di sản thừa kế và được xem xét chia theo quy định của pháp luật.

6.4. Về ý kiến đề nghị của nguyên đơn ông Lê T1 về việc áp dụng Án lệ số 33/2020/AL: qua xem xét tình huống của Án lệ số 33/2020/AL, được áp dụng trong trường hợp được nhà đất giao đất từ trước năm 1975 nhưng không sử dụng. Sau khi người được giao đất chết, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất không có ý kiến gì đối với việc sử dụng thửa đất, người trực tiếp sử dụng đất ổn định từ năm 1972 và tiến hành kê khai cấp giấy. Như vậy nội dung của vụ án không tương tự như tình huống trong Án lệ đã nêu, bởi: (1) Cụ Phục khi còn sống, vẫn thường xuyên quản lý đất, cụ P14 năm 2020, sau khi cụ P14 cho đến nay, các thừa kể khác không ai thừa nhận việc cụ P8 quyền quản lý, sử dụng đất cho nguyên đơn mà chỉ cho nguyên đơn sử dụng làm nơi cư trú khi nguyên đơn từ Thành phố Hồ Chí Minh về huyện L, tỉnh Đồng Nai vào năm 2007. (2) Thời gian quản lý tài sản của ông Lê T1 cũng chưa đủ 30 năm để cho rằng ông L T1 sử dụng đất ổn định, liên tục, không tranh chấp (theo ông Lê T1 thì quản lý từ năm 2001, tính đến thời điểm khởi kiện mới chỉ 21 năm). (3) Sau khi về sinh sống tại diện tích đất nêu trên, ông Lê T1 cũng không tiến hành kê khai, đăng ký để được xem xét mà cụ P15 hiện khai nhận di sản thừa kế và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04-9-2014. Nhận thấy các tình tiết, sự kiện trong vụ án này khác hoàn toàn với tình huống Án lệ số 33/2020/AL nên không có cơ sở để áp dụng như đề nghị của nguyên đơn. Về nội dung ông Lê T1 làm nhà trên đất và thực hiện nghĩa nộp thuế nhà, đất từ năm 2008 cho đến nay chỉ là căn cứ để xem xét công sức đóng góp của ông Lê T1 trong việc quản lý di sản của cụ P.

6.5. Từ những nhận định trên, xác định di sản của cụ Nguyễn Văn P16 Lê Thị A9 để lại gồm có: (1) Diện tích đất 76,3m², trong đó phần được cấp là 55,9m², phần không được cấp là 20,4m² thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X 01 căn nhà cấp 4 trên đất diện tích sàn xây dựng là 76,7m²; (2) Diện tích 77,40m² thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 210, bản đồ địa chính thị trấn L. Riêng nhà cấp 4 xây dựng trên diện tích đất thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 210, bản đồ địa chính thị trấn L là tài sản do nguyên đơn ông Lê T1 và vợ Lâm Thị Kim H9 tự xây dựng, nên tài sản này không phải là di sản thừa kế của cụ P7 cụ .

[7] Về kết quả đo đạc:

Tại kết quả đo đạc đối với diện tích đất 55,9m² thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X thể hiện ranh giới do ông H1 T2 chỉ dẫn không phù hợp với ranh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua làm việc, ông H1 T2 thừa nhận việc chỉ dẫn do đạc có sai sót và đồng ý lấy các mốc theo ranh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, xác định ranh giới thửa đất gồm các mốc (1,2,3,4,5,6,1) thể hiện tại Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 4875/2020 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ Chi nhánh L lập ngày 10-9-2022.

[8] Về giá trị di sản:

  1. Giá trị nhà và đất thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X căn cứ Biên bản định giá tài sản ngày 05-01-2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố L thì giá thị trường của diện tích đất 55,9m² là 5.000.000.000đ. Nhà cấp 4, hạng 2, diện tích sàn xây dựng 76,7m² có giá trị còn lại là 80.199.054đ. Tổng giá trị nhà và đất là: 5.080.199.054đ.
  2. Giá trị quyền sử dụng đất diện tích 77,40m² thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 210, bản đồ địa chính thị trấn L căn cứ chứng thư thẩm định giá số 5489/CT-DNI ngày 22-12-2023 của Công ty Cổ phần T29 định diện tích đất có giá là 2.476.800.000đ. Như vậy, tổng giá trị di sản là 7.556.999.054đ.

[9] Về công sức đóng góp, gìn giữ khối di sản:

Di sản toạ lạc tại thành phố L (nhà và đất tại thửa đất số 87, tờ bản đồ số 09) từ trước và sau khi cụ P16 Ả chết do bị đơn ông H10 trực tiếp quản lý; di sản toạ lạc tại huyện L (thửa 73, tờ bản đồ số 210) từ trước và sau khi cụ P16 Ả chết do nguyên đơn ông Lê Trung T quản lý. Trong quá trình quản lý, ông H1 T2 và ông Lê T1 đều thực hiện nghĩa vụ thuế đối với phần di sản mình quản lý, hiện tại nhà và đất tại thửa đất số 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X T2 đang sử dụng làm nơi thờ cúng cha, mẹ. Vì vậy, mặc dù ông H1 T2 ông Lê T1 không yêu cầu tính công sức đóng góp, nhưng căn cứ vào quy định tại Án lệ số 05/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì: “Trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế, có đương sự thuộc diện được hưởng một phần di sản thừa kế và có công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kể nhưng không đồng ý việc chia thừa kế (vì cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế), không có yêu cầu cụ thể về việc xem xét công sức đóng góp của họ vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế; nếu Tòa án quyết định việc chia thừa kế cho các thừa kế thì phải xem xét về công sức đóng góp của họ vì yêu cầu không chia thừa kế đối với di sản thừa kế lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức.”. Do đó, trích từ di sản để thanh toán công sức đóng góp cho ông Lê T1 và ông Lê T1 mỗi người 2,5% tổng giá trị di sản số tiền là: 7.556.999.054đ x 2,5% = 188.924.976đ. Trong trường hợp ông Lê T1 và ông H1 T2 được chia thừa kế bằng hiện vật, thì phần công sức đóng góp nêu trên sẽ được khấu trừ trực tiếp vào phần suất thừa kế phải thanh toán cho các thừa kế nhận bằng giá trị. Sau khi trích công sức đóng góp cho ông Lê T1 và ông H1 T2 Giá trị di sản còn lại để chia thừa kế là 7.179.149.102đ.

[10] Về chia bằng hiện vật:

Ông H1 T2 ông Lê Trung đang trực tiếp quản lý di sản; ông H1 T2 ông Lê T1 đều có nguyện vọng được nhận thừa kế bằng hiện vật. Xét ông Lê T18 đã làm nhà trên phần đất là di sản thừa kế tại huyện L T2 hiện đang sinh sống, kinh doanh buôn bán tại nhà đất thuộc thành phố L ra nhà còn là nơi thờ, cúng cha mẹ. Do đó, để đảm bảo thuận lợi cho công tác thi hành án dân sự, cần chia cho ông Lê T1 và ông H1 T2 được nhận thừa kế bằng hiện vật, ông Lê T1 và ông H1 T2 phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị cho các thừa kế nếu hiện vật được nhận vượt quá suất thừa kế và phần công sức đóng góp được chia.

[11] Về ý kiến của ông H7 T6 đề nghị được sở hữu chung cùng ông H1 T2 phần di sản bằng hiện vật là nhà đất tại thửa đất số 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4 của Quyết định số 35/2022/QĐ-UBND ngày 29-8-2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ đối với đất ở đô thị “Diện tích tối thiểu của thửa đất sau tách thửa đối với đất ở tại đô thị (kể cả xã L, thành phố B 60m² (sáu mươi mét vuông)” và tại khoản 5 Điều 3 Quyết định nêu trên cũng quy định “Nhóm người nhận chuyển quyền sử dụng đất (đồng sử dụng) thì quyền sử dụng đất phải đảm bảo phân chia được theo phần cho từng thành viên trong nhóm theo diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với từng loại đất quy định tại Điều 4 Quyết định này...”. Như vậy, diện tích 55,9m² thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X quy định chung là không đủ điều kiện để tách thửa, mặt khác thửa đất có diện tích nhỏ nên việc chia tách sẽ làm giảm giá trị đất. Do đó, không chấp nhận đề nghị của ông H7 T6 về việc được sở hữu chung cùng ông H1 T2 phần di sản bằng hiện vật là nhà đất toạ lạc tại phường X, thành phố L.

[12] Về chia bằng giá trị:

Tổng giá trị di sản sau khi trích công sức đóng góp là 7.179.149.102đ. Vì vậy, mỗi thừa kế được nhận 01 suất thừa kế có giá trị là: 1.794.787.275đ.

[13] Giá trị di sản mà nguyên đơn ông Lê T19 nhận là: 2.476.800.000đ, sau khi trích công sức đóng góp số tiền 188.924.976đ thì di sản còn lại là 2.287.875.024đ. Phần di sản mà ông Lê Trung n quá 01 suất thừa kế, nên ông Lê T1 phải có nghĩa vụ thanh toán phần vượt quá cho các thừa kế nhận bằng giá trị số tiền là 493.087.749đ (2.287.875.024đ - 1.794.787.275đ). Cụ thể, thanh toán cho ông H7 T6 và ông A1 T4 mỗi người số tiền là 246.543.874đ.

[14] Giá trị di sản mà bị đơn ông H1 T2 được nhận là: 5.080.199.054đ, sau khi trích công sức đóng góp số tiền 188.924.976đ thì di sản còn lại là 4.891.274.078đ. Phần di sản mà ông H1 T2 nhận, vượt quá 01 suất thừa kế, nên ông H1 T2 phải có nghĩa vụ thanh toán phần vượt quá cho các thừa kế nhận bằng giá trị số tiền là 3.096.486.803đ (4.891.274.078đ - 1.794.787.275đ). Cụ thể, thanh toán cho ông H7 T6 và ông A1 T4 mỗi người số tiền là 1.548.243.401đ.

[15] Về án phí:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, thì án phí được giải quyết như sau:

  • Số tiền trích % từ khối di sản để thanh toán công sức đóng góp cho ông H1 T30, không phải là số tiền được chia thừa kế, nên các ông H1 T2, Hoàng T6 không phải chịu án phí đối với phần này.
  • Các thừa kế phải chịu án phí có giá ngạch trên số tiền được chia số tiền là 36.000.000đ + (994.787.275đ x 3%) = 65.843.618đ. Ông Lê T1 được khấu trừ số tiền 12.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005608 ngày 28-4-2022, nên còn phải chịu án phí số tiền là 53.843.618đ. Ông H1 T2 được khấu trừ số tiền 6.250.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008363 ngày 07-11-2023, nên còn phải chịu án phí số tiền là 59.593.618đ.

[16] Về chi phí tố tụng:

Căn cứ các điều 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự, chi phí tố tụng trong vụ án được giải quyết như sau:

  • Ông Lê T1 đã tạm ứng các khoản: (1) Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 4.894.302 đồng; (2) chi phí định giá số tiền 4.000.000đ, tổng cộng: 8.894.302đ. Vì vậy bị đơn ông H1 T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H7 T6 ông Anh T4 mỗi người phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Lê T1 số tiền là 2.223.575đ.

- Ông H1 T2 đã tạm ứng chi phí thẩm định giá số tiền 25.000.000đ, nên nguyên đơn ông Lê T1 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H7 T6 ông Anh T4 mỗi người phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông H1 T2 số tiền là 6.250.000đ.

[17] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh:

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, tuy nhiên cần phải xem xét và tính công sức đóng góp, gìn giữ đối với di sản theo tinh thần của Án lệ, nên chấp nhận một phần đề nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Các điều 26, 35, 39, 92, 147, 157, 165, 227, 228, 235, 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các điều 612, 613, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Các Điều 166, 167, 168 Luật đất đai năm 2013;
  • Án lệ số 05/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Lê T20 việc yêu cầu chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 73, tờ bản đồ số 210, bản đồ địa chính thị trấn L.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Lê T20 việc yêu cầu chia di sản thừa kế đối với diện tích đất 55,9m² thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X 01 căn nhà cấp 4 trên đất.
  3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn H1 T2 về việc yêu cầu chia di sản thừa kế đối với diện tích 77,40m² thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 210, bản đồ địa chính thị trấn L.
  1. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn P cụ Lê Thị A10: (1) Nguyễn Lê T1 sinh năm 1975; (2) Nguyễn A1 T4 sinh năm 1976; (3) Nguyễn Huy T2 sinh năm 1978; (4) Nguyên Hoàng T6 sinh năm 1982.
  2. Xác định di sản gồm: (1) diện tích đất 55,9m² thuộc thửa số 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X giới hạn bởi các mốc (1,2,3,4,5,6,1) thể hiện tại Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 4875/2022 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ Chi nhánh L lập ngày 10-9-2022 và 01 căn nhà cấp 4, hạng 2, diện tích sàn xây dựng 76,7m² trên đất; (2) diện tích 77,40m² thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 210, bản đồ địa chính thị trấn L giới hạn bởi các điểm (1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,1) thể hiện tại bản đồ hiện trạng thửa đất số 11605/2022 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ Chi nhánh L1 ngày 19-9-2022. Tổng giá trị di sản là 7.556.999.054đ (Bảy tỷ năm trăm năm mươi sáu triệu chín trăm chín mươi chín nghìn không trăm năm mươi bốn đồng).
  3. Về thanh toán công sức đóng góp, gìn giữ khối di sản: Trích trong tổng giá trị di sản cho ông Nguyễn Lê T21 ông Nguyễn H1 T2 mỗi người số tiền 188.924.976đ, (Một trăm tám mươi tám triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn chín trăm bảy mươi sáu đồng), tương ứng với 2,5% giá trị di sản để thanh toán công sức đóng góp, gìn giữ khối di sản. Giá trị di sản còn lại là 7.179.149.102đ (Bảy tỷ một trăm bảy mươi chín triệu một trăm bốn mươi chín nghìn một trăm lẻ hai đồng).
  4. Giá trị của mỗi suất thừa kế các thừa kế được chia là: 7.179.149.102 đồng : 4 = 1.794.787.275 đồng (Một tỷ bảy trăm chín mươi tư triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn hai trăm bảy mươi lăm đồng).
  5. Về phân chia di sản:
    1. Giao cho ông Nguyễn Lê T22 quyền sử dụng diện tích 77,40m² thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 210, bản đồ địa chính thị trấn L, giới hạn bởi các điểm (1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,1) thể hiện tại bản đồ hiện trạng thửa đất số 11605/2022 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ Chi nhánh L ngày 19-9-2022. Phần giá trị di sản mà ông Nguyễn Lê T22 nhận vượt quá 01 suất thừa kế (sau khi đã trích phần công sức đóng góp, gìn giữ khối di sản) là 493.087.749đ (Bốn trăm chín mươi ba triệu không trăm tám mươi bảy nghìn bảy trăm bốn mươi chín đồng (2.287.875.024đ - 1.794.787.275đ).
    2. Ông Nguyễn Lê T23 có nghĩa vụ thanh toán giá trị cho các thừa kế ông Nguyễn Hoàng T3 ông Nguyễn A2 T4 mỗi người số tiền là 246.543.874đ (Hai trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi bốn đồng).
    3. Giao cho ông Nguyễn H1 T2 được quyền sử dụng diện tích đất 55,9m² thuộc thửa số 87, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính phường X giới hạn bởi các mốc (1,2,3,4,5,6,1) thể hiện tại Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 4875/2020 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ Chi nhánh L lập ngày 10-9-2022 và quyền sở hữu 01 căn nhà cấp 4, hạng 2, diện tích sàn xây dựng 76,7m² trên đất. Phần giá trị di sản mà ông Nguyễn Lê T22 nhận vượt quá 01 suất thừa kế (sau khi đã trích phần công sức đóng góp, gìn giữ khối di sản) là 3.096.486.803đ (Ba tỷ không trăm chín mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn tám trăm lẻ ba đồng) (4.891.274.078đ - 1.794.787.275đ).
    4. Ông Nguyễn Huy T24 có nghĩa vụ thanh toán giá trị cho các thừa kế ông Nguyễn Hoàng T3 ông Nguyễn A2 T4 mỗi người số tiền là 1.548.243.401đ (Một tỷ năm trăm bốn mươi tám triệu hai trăm bốn mươi nghìn bốn trăm lẻ một đồng).
  6. Về lãi chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án. Lãi suất chậm trả tiền do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  7. Kèm theo bản án là Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 4875/2022 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ Chi nhánh L lập ngày 10-9-2022; bản đồ hiện trạng thửa đất số 11605/2022 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ Chi nhánh L1 ngày 19-9-2022; biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ các ngày 02-8-2022, 04-8-2022 của Toà án nhân dân thành phố Long Khánh.
  8. Khi án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn H1 T2 ông Nguyễn Lê T2 được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ thi hành án.
  9. Về chi phí tố tụng:
    • Ông Nguyễn H1 T2 ông N T4 mỗi người phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Lê T25 tiền là 2.223.575đ (Hai triệu hai trăm hai mươi ba nghìn năm trăm bảy mươi lăm đồng).
    • Ông Nguyễn Lê T1 ông Nguyễn Hoàng T3 ông Nguyễn A3 T4 mỗi người phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn H1 T2 số tiền là 6.250.000đ (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
  10. Về án phí:
    • Các ông Nguyễn Hoàng T26 Anh T4 mỗi người phải chịu án phí số tiền là 65.843.618đ (Sáu mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn sáu trăm mười tám đồng).
    • Ông Nguyễn Lê T23 chịu án phí số tiền 65.843.618đ nhưng được khấu trừ số tiền 12.000.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005608 ngày 28-4-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, ông Nguyễn Lê T27 phải chịu án phí số tiền là 53.843.618đ (Năm mươi ba triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn sáu trăm mười tám đồng).
    • Ông Nguyễn H1 T2 phải chịu án phí số tiền 65.843.618đ nhưng được khấu trừ số tiền 6.250.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008363 ngày 07-11-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, nên còn phải chịu án phí số tiền là 59.593.618đ (Năm mươi chín triệu năm trăm chín mươi ba nghìn sáu trăm mười tám đồng).
  11. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

  1. Trường hợp bản án, quyết định được được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • VKSND thành phố Long Khánh;
  • Chi cục THA thành phố Long Khánh;
  • Các đương sự (để thi hành);
  • Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đăng Tố

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 16/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn đơn Nguyễn Lê Trung yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger