TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 4 - 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lài.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Bình.
Bà Nguyễn Thị Thảo.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Văn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 282/2023/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 12 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 4 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1975. Địa chỉ: Xóm I, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn B, sinh năm 1969. Địa chỉ: Xóm I, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 20/9/2023, bản tự khai, lời khai trong quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Nguyên đơn và bị đơn anh Đặng Văn B tổ chức lễ cưới theo phong tục và chung sống với nhau từ năm 1995 nhưng không có đăng ký kết hôn. Việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đặng Văn B ghen tuông, đánh đập và đuổi nguyên đơn ra khỏi nhà. Từ năm 2019 đến nay, nguyên đơn và anh Đặng Văn B không chung sống với nhau, không quan tâm, chăm sóc nhau. Nay thấy không còn tình nghĩa vợ chồng nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn anh Đặng Văn B. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn B có ba con chung là Đặng Thị T1, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1996; Đặng Văn Quốc H, sinh ngày 23 tháng 4 năm 2003 và Đặng Văn T2, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2011. Vợ chồng ly hôn, nguyên đơn đề nghị giao con chung Đặng Văn T2 cho anh Đặng Văn B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành. Các con chung Đặng Thị T1 và Đặng Văn Quốc H đã trưởng thành có cuộc sống riêng nên các con ở với ai là tùy. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/3/2024, bị đơn anh Đặng Văn B thống nhất với nguyên đơn về việc chung sống với nhau từ năm 1995 nhưng không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Nguyễn Thị T có quan hệ tình cảm với người khác nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, vợ chồng không tin tưởng nhau, chung sống không hạnh phúc. Từ năm 2019 đến nay vợ chồng không chung sống với nhau, không yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau. Nay thấy không còn tình nghĩa vợ chồng nên bị đơn đồng ý ly hôn chị Nguyễn Thị T. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung như nguyên đơn trình bày. Vợ chồng ly hôn bị đơn yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Đặng Văn T2 đến khi trưởng thành, không yêu cầu chị Nguyễn Thị T cấp dưỡng nuôi con. Các con chung Đặng Thị T1 và Đặng Văn Quốc H đã trưởng thành có cuộc sống riêng nên các con ở với ai là tùy. Về tài sản chung: Bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Toà án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ, Thẩm phán chấp hành đúng quy định tại các Điều 48, 68, 208, 209, 210, 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã thực hiện theo đúng trình tự quy định từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Áp dụng khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn B. Về con chung: Giao con chung Đặng Văn T2, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2011 cho anh Đặng Văn B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị T do anh Đặng Văn B không yêu cầu. Chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- [1.1]. Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn và giải quyết việc nuôi con chung với anh Đặng Văn B có hộ khẩu thường trú tại xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung là có căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2]. Về áp dụng pháp luật nội dung:
- [2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn và kết quả xác minh tại UBND xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An xác định: Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn B chung sống như vợ chồng từ năm 1995 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Do mâu thuẫn trong cuộc sống nên từ năm 2019 đến nay, chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn B không tiếp tục chung sống với nhau. Như vậy, chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn B có đủ điều kiện kết hôn và chung sống với nhau từ năm 1995 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn B đều có yêu cầu được ly hôn nhau. Căn cứ vào Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn B.
- [2.2]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn B có 03 con chung là Đặng Thị T1, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1996; Đặng Văn Quốc H, sinh ngày 23 tháng 4 năm 2003 và Đặng Văn T2, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2011. Hiện các con chung Đặng Thị T1 và Đặng Văn Quốc H đã thành niên, có quyền tự lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mình theo quy định tại khoản 4 Điều 70 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đối với con chung Đặng Văn T2, chị Nguyễn Thị T đề nghị giao cho anh Đặng Văn B được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; anh Đặng Văn B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành và nguyện vọng của Đặng Văn T2 được sống cùng bố nên Hội đồng xét xử giao con chung Đặng Văn T2 cho anh Đặng Văn B trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình và nguyện vọng của các đương sự.
- [2.3]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị T do anh Đặng Văn B không yêu cầu. Khi có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con, các bên có quyền tự thỏa thuận hoặc khởi kiện vụ án về yêu cầu cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
- [2.4]. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện đến Tòa án bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
- [3]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
- [4]. Các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, các Điều 68, 69, 70, 71, 72, 73, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn B.
- Về con chung: Giao con chung Đặng Văn T2, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2011 cho anh Đặng Văn B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Các con chung Đặng Thị T1, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1996 và Đặng Văn Quốc H, sinh ngày 23 tháng 4 năm 2003, hiện đã thành niên, có quyền tự lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mình.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị T do anh Đặng Văn B không yêu cầu. Khi có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con, các bên có quyền tự thỏa thuận hoặc khởi kiện vụ án về yêu cầu cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện đến Tòa án bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001534, ngày 06 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lài |
Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 16/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Đặng Văn B
