Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ THỌ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày 25/4/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Vĩnh

2. Ông Nguyễn Tiến Dũng

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đặng Trần Hoàng – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2024/TLST- HS, ngày 15 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST - HS ngày 16/4/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Quang T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 26/8/1989 tại: Huyện K, tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Trần Quang G (Đã chết); Mẹ đẻ: Trần Thị M (Đã chết); A, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị Phi N, sinh năm 1963; Con: 02 con (Con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1988); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPVPHC ngày 01/3/2010 của Công an phường T (nay là công an phường H), thị xã P, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trần Quang T 500.000đ về hành vi đánh bạc. T đã nộp phạt ngày 01/3/2010.Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 59/QĐ-XPVPHC ngày 10/11/2013 của Công an phường T (nay là công an phường H), thị xã P, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trần Quang T 500.000đ về hành vi đánh bạc. T đã nộp phạt năm 2013.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/12/2023 đến ngày 28/12/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

2. Họ và tên: Chu Anh D; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03/01/1984 tại: Thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Chu Đức H (Đã chết); Mẹ đẻ: Mai Thị Ngọc H1, Sinh năm: 1960. Hiện ở khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; A, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ hai; Vợ: Trần Thị Thu H2, sinh năm 1987; Con: 03 con (Con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/12/2023 đến ngày 28/12/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn T1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14/4/1984 tại:Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT: Xóm X, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở hiện nay: Xóm X, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Nguyễn Văn Đ, Sinh năm 1956; Mẹ đẻ: Phạm Thị L, Sinh năm 1959. Cả bố và mẹ đều trú tại xóm X, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; A, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là thứ ba; Vợ: Trần Thị Thúy N1, sinh năm 1983; Con: 02 con (Con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/12/2023 đến ngày 28/12/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

4. Họ và tên: Nguyễn Anh T2; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/8/1978 tại: Huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khu dân cư T, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Nguyễn Bá D1, Sinh năm 1944; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T3, Sinh năm 1947. Cả bố và mẹ đều trú tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; A, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ hai; Vợ: Lại Thị Vân Q, sinh năm 1981; Con: 02 con (Con nhỏ nhất sinh năm 2010, con lớn nhất sinh năm 2005): Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/12/2023 đến ngày 28/12/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

5. Họ và tên: Dương Quốc H3; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 30/9/1977 tại: Thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khu dân cư S, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Dương Minh H4 (Đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T4, S năm 1945; A, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ tư; Vợ: Hà Thị Thúy H5, sinh năm 1981; Con: 02 con. Con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/12/2023 đến ngày 28/12/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 25/12/2023, các bị cáo Trần Quang T, Chu Anh D, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Anh T2 đến nhà Dương Quốc H3 ở khu dân cư S, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ chơi. Sau đó T, D, T1 và T2 rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi bài sâm được thua bằng tiền, đồng thời hỏi bị cáo H3 cho mượn nhà để làm địa điểm đánh bạc. Bị cáo H3 đồng ý cho bị cáo T, bị cáo D, bị cáo T1 và bị cáo T2 đánh bạc tại nhà mình và thỏa thuận mỗi người chơi thắng “Sâm” thì phải nộp cho H3 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng)/ lần sâm. Bị cáoTâm, D, T1 và T2 đồng ý. Sau đó, bị cáo H3 lấy bộ bài tú lơ khơ có sẵn trong nhà và lấy chiếu nhựa trải ở nền bếp để bị cáo T, D, T1 và T2 đánh bạc tại đây. Khi các bị cáo đang đánh bạc trong phòng bếp, bị cáo H3 thỉnh thoảng đi ra ngoài cổng để cảnh giới. Quá trình đánh bạc, bị cáo T1 thắng sâm 02 lần nên để ra số tiền 200.000 đồng ( Hai mươi nghìn đồng) trên chiếu cạnh vị trí T1 ngồi, T2 thắng sâm 01 lần nên để số tiền 100.000 đồng ( Một trăm nghìn đồng) trên chiếu cạnh vị trí T2 ngồi. Cả hai để số tiền này với mục đích sau khi đánh bạc xong đưa cho H3 như đã thỏa thuận từ trước. Các đối tượng đánh bạc liên tục đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an thị xã P vào kiểm tra bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 12.380.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng), 01(một) bộ bài tú lơ khơ, 01(một) chiếc chiếu nhựa. Các đối tượng D, T, T1, T2 và H3 bị tạm giữ theo theo Quyết định tạm giữ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P.

Cùng ngày 25/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H3 tại khu dân cư S, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tại cơ quan điều tra Chu Anh D, Trần Quang T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Anh T2 đã khai nhận hành vi đánh bạc trái phép tại phòng bếp của gia đình Dương Quốc H3. Các đối tượng còn khai nhận H3 đã cho mượn phòng bếp của gia đình H3, cảnh giới cho các đối tượng đánh bạc đồng thời mỗi người thắng sâm phải nộp cho H3 100.000đ ( Một trăm nghìn đồng)/lần sâm..

Về cách thức đánh bạc và tỷ lệ được thua, những người chơi thống nhất như sau: Người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài từ quân A đến quân K đầy đủ các chất rô, cơ, tép, bích để chơi. Mỗi người chơi sẽ được chia 10 lá bài khi bắt đầu ván bài. Ở ván đầu tiên, người giữ quân bài nhỏ nhất sẽ được đánh trước. Từ ván thứ 2 trở đi, người về nhất sẽ giành được quyền chia bài và đánh đầu. Trong đó 3 là quân nhỏ nhất và 2 là quân lớn nhất. Đôi là cặp bao gồm 2 quân bài cùng số, đôi 3 là đôi nhỏ nhất và đôi 2 lớn nhất. Bộ ba gồm 3 quân bài cùng số, thứ tự từ nhỏ đến lớn cũng tính từ 3 đến 2. Tứ quý gồm 4 quân bài cùng số, thứ tự từ nhỏ đến lớn. Dây gồm các quân bài có thứ tự liên tiếp nhau, độ dài của dây bắt buộc phải từ 3 quân bài trở lên, độ lớn của dây được tính như sau: dây nhỏ nhất bắt đầu từ quân A, dây lớn nhất kết thúc bởi quân A (ví dụ: 3,4,5 hay 10, J, Q...). Khi một người chơi hô “Sâm” tức là bài của người đó đánh ra không có ai bắt được hoặc có 5 đôi hoặc cùng một màu hoặc có tứ quý 2. Người chơi bị “Treo” tức là trong ván bài không đánh được quân nào. Người chơi bị bắt tứ quý tức là khi đánh một con 2 bị người khác bắt tứ quý. Người nào “Sâm” hoặc đánh hết bài trước thì là người thắng, những người còn lại là thua. Người nào đánh hết bài trước thì những người còn lại sẽ đếm số quân bài còn chưa đánh được, sau đó quy đổi thành tiền để trả cho người thắng, mỗi quân bài tương ứng với mức 20.000 đồng ( Hai mươi nghìn đồng) /1quân. Nếu ván bài có người “Sâm” thì được mỗi người thua trả cho số tiền 600.000 đồng ( Sáu trăm nghìn đồng). Nếu bị bắt “Sâm” thì người “Sâm” phải trả cho người bắt “Sâm” số tiền 1.800.000 đồng( Một triệu tám trăm nghìn đồng). Nếu ván bài có người nào bị treo thì phải trả cho người thắng trong ván bài đó là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Người nào bị bắt tứ quý sẽ phải trả cho người bắt tứ quý số tiền 400.000 đồng ( Bốn trăm nghìn đồng).

Kết quả điều tra xác định số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P thu giữ trên chiếu bạc ngày 25/12/2023 là: 12.380.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng). Về số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc được xác định như sau: Chu Anh D có số tiền 3.880.000 đồng (Ba triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng), Trần Quang T có số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), Nguyễn Văn T1 có số tiền 2.800.000 đồng (Hai triệu tám trăm nghìn đồng), Nguyễn Anh T2 có số tiền 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Toàn bộ số tiền sử dụng đánh bạc được các đối tượng đặt trước vị trí ngồi của mình. Trong quá trình đánh bạc, T1 thắng sâm 02 ván và để ra 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng), T2 thắng sâm 01 ván và để ra 100.000 đồng ( một trăm nghìn đồng, số tiền này được đặt trên chiếu bạc cạnh vị trí các đối tượng ngồi đánh bạc với mục đích sau khi đánh bạc xong sẽ nộp cho H3 theo thỏa thuận ban đầu. Khi bị bắt, toàn bộ số tiền trên bị lẫn vào nhau nên các đối tượng không xác định được thắng thua.

Đối với Dương Quốc H3, ngày 25/12/2023 mặc dù H3 không trực tiếp tham gia đánh bạc cùng các bị can trên nhưng H3 là người đã tạo điều kiện thuận lợi như cho mượn địa điểm do mình sở hữu, chuẩn bị công cụ, thu tiền cảnh giới để D, T, T1 và T2 thực hiện hành vi đánh bạc. H3 còn thỏa thuận với các đối tượng nếu ai thắng sâm thì phải nộp số tiền 100.000đ ( Một trăm nghìn đồng) /lần thắng sâm cho H3. Việc H3 chưa nhận được tiền mà những người thắng sâm nộp là nằm ngoài ý muốn chủ quan của H3 và các đối tượng đánh bạc. Hành vi cho mượn địa điểm do mình sở hữu, canh gác cho các đối tượng khác đánh bạc để thu lời bất chính của Dương Quốc H3 tuy không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nhưng H3 phải chịu trách nhiệm hình sự về đồng phạm với hành vi đánh bạc của các bị can D, T, T1 và T2.

Về vật chứng vụ án: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếc chiếu nhựa và số tiền 12.380.000 đồng ( Mười hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) là công cụ và tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc.

Về điều kiện kinh tế: Các bị cáo D, H3, T1 và T2 đều là lao động tự do, thu nhập của các bị cáo từ khoảng 06 triệu đồng đến 08 triệu đồng/tháng. Bị cáo T không có việc làm nên không có thu nhập.

Bị cáo D, H3 và T đều có tài sản chung của vợ chồng là nhà và đất ở tại nơi cư trú. Bị cáo T2 và T1 không có tài sản giá trị ngoài các đồ dùng sinh hoạt thiết yếu.

Tại phiên tòa,bị cáo Trần Quang T khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 25/12/2023 có D, T1, T2 và bị cáo đến nhà anh H3 ở khu dân cư S, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ chơi. Sau đó Bị cáo, D, T1 và T2 rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi bài sâm được thua bằng tiền, đồng thời hỏi H3 cho mượn nhà để làm địa điểm đánh bạc. H3 đồng ý cho bị cáo, D, T1 và T2 đánh bạc tại nhà H3 và thỏa thuận mỗi người chơi thắng “Sâm” thì phải nộp cho H3 100.000 đồng ( Một trăm nghìn đồng) / lần sâm. Bị cáo, D, T1 và T2 đồng ý. Sau đó, H3 lấy bộ bài tú lơ khơ có sẵn trong nhà và lấy chiếu nhựa trải ở nền bếp để bị cáo, D, T1 và T2 đánh bạc tại đây. Khi bị cáo, D, T1 và T2 đang đánh bạc trong phòng bếp, H3 thỉnh thoảng đi ra ngoài cổng để cảnh giới. Quá trình đánh bạc, bị cáo không thắng sâm lần nào, T1 thắng sâm 02 lần nên để ra số tiền 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) trên chiếu cạnh vị trí T1 ngồi, T2 thắng sâm 01 lần nên để số tiền 100.000 đồng ( Một trăm nghìn đồng) trên chiếu cạnh vị trí T2 ngồi. Cả hai để số tiền này với mục đích sau khi đánh bạc xong đưa cho H3 như đã thỏa thuận từ trước. Bị cáo, D, T1 và T2 đánh bạc liên tục đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an thị xã P vào kiểm tra bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 12.380.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) bao gồm cả số tiền 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng) mà H3 chưa lấy, 01(một) bộ bài tú lơ khơ, 01(một) chiếc chiếu nhựa. Khi bị cáo tham gia đánh bạc, bị cáo có số tiền là 3.000.000₫ ( Ba triệu đồng), bị cáo để toàn bộ số tiền này trước vị trí để đánh bạc. Khi bị lực lượng Công an thị xã P bắt thì số tiền này bị lẫn vào số tiền của người chơi khác nên bị cáo không xác định được là mình thắng hay thua.

Tại phiên tòa, bị cáo Chu Anh D khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 25/12/2023, T, T1, T2 và bị cáo đến nhà H3. Sau đó Bị cáo, T, T1 và T2 rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi bài sâm được thua bằng tiền, đồng thời hỏi H3 cho mượn nhà để làm địa điểm đánh bạc. H3 đồng ý cho bị cáo, D, T1 và T2 đánh bạc tại nhà H3 và thỏa thuận mỗi người chơi thắng “Sâm” thì phải nộp cho H3 100.000 đồng( Một trăm nghìn đồng)/ lần sâm. Bị cáo, D, T1 và T2 đồng ý. Sau đó, H3 lấy bộ bài tú lơ khơ có sẵn trong nhà và lấy chiếu nhựa trải ở nền bếp để bị cáo, D, T1 và T2 đánh bạc tại đây. Quá trình đánh bạc như bị cáo T trình bày tại phiên tòa là đúng. Khi bị cáo tham gia đánh bạc, bị cáo có số tiền là 3.880.000₫ ( Ba triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng), bị cáo để toàn bộ số tiền này trước vị trí để đánh bạc. Khi bị lực lượng Công an thị xã P bắt thì số tiền này bị lẫn vào số tiền của người chơi khác nên bị cáo không xác định được là mình thắng hay thua.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh T2 khai nhận: Quá trình đánh bạc như bị cáo T, bị cáo D trình bày tại phiên tòa là đúng, bị cáo và T1 thắng sâm và để ra số tiền 300.000₫ ( Ba trăm nghìn đồng) một góc và nộp lại cho anh H3. Khi bị cáo tham gia đánh bạc, bị cáo có số tiền là 2.700.000đ( Hai triệu bảy trăm nghìn đồng), bị cáo để toàn bộ số tiền này trước vị trí để đánh bạc. Khi bị lực lượng Công an thị xã P bắt thì số tiền này bị lẫn vào số tiền của người chơi khác nên bị cáo không xác định được là mình thắng hay thua.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T1 khai nhận: Toàn bộ quá trình đánh bạc như bị cáo T, bị cáo D, bị cáo T2 trình bày tại phiên tòa là đúng, bị cáo và T2 thắng sâm và để ra số tiền 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng) một góc và nộp lại cho anh H3. Khi bị cáo tham gia đánh bạc, bị cáo có số tiền là 2.800.000₫ ( Hai triệu tám trăm nghìn đồng), bị cáo để toàn bộ số tiền này trước vị trí để đánh bạc. Khi bị lực lượng Công an thị xã P bắt thì số tiền này bị lẫn vào số tiền của người chơi khác nên bị cáo không xác định được là mình thắng hay thua.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Quốc H3 khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 25/12/2023, bị cáo đang ở nhà tại: khu dân cư S, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ thì có T, T2, D và T1 đến nhà bị cáo chơi. Sau đó T1, T, D và T2 rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi bài sâm được thua bằng tiền, đồng thời hỏi bị cáo cho mượn chỗ để đánh bạc, bị cáo đồng ý và cho bị cáo, D, T và T2 đánh bạc tại nhà bị cáo. Bị cáo và mọi người chơi thỏa thuận mỗi người chơi thắng “Sâm” thì phải nộp cho bị cáo 100.000 đồng( Một trăm nghìn đồng) / lần sâm. Bị cáo và những người chơi nêu trên đồng ý. Sau đó, bị cáo lấy bộ bài tú lơ khơ có sẵn trong nhà và lấy chiếu nhựa trải ở nền bếp để 04 người chơi đánh bạc tại đây, còn bị cáo đi ra ngoài cửa đứng cảnh giới. Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày thì lực lượng Công an thị xã P vào kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ số tiền 12.380.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng), 01(một) bộ bài tú lơ khơ, 01(một) chiếc chiếu nhựa.

Tại bản cáo trạng số: 14/CT-VKSTXPT ngày 12/03/2024 VKSND thị xã Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Trần Quang T, Nguyễn Văn T1, Chu Anh D, Nguyễn Anh T2 và Dương Quốc H3 về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Trần Quang T, Nguyễn Văn T1, Chu Anh D, Nguyễn Anh T2 và Dương Quốc H3 về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

- Về trách nhiệm hình sự:

Đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Trần Quang T, Chu Anh D, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Anh T2 và Dương Quốc H3 phạm tội Đánh bạc,

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Quang T từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ 25/12/2023 đến ngày 28/12/2023. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000đ ( Mười triệu đồng) đến 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt các bị cáo Chu Anh D, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Anh T2 và Dương Quốc H3 mỗi bị cáo từ 25.000.000₫ ( Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000đồng( Ba mươi triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu số tiền đánh bạc: 12.380.000 đồng ( Mười hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà Nước.

- Tịch thu 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếc chiếu nhựa đều đã qua sử dụng để tiêu hủy.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Điều 23 NQ 326 ngày 30/12/2016 của UBTTV Quốc hội, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều thừa nhận hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật và rất ăn năn, hối cải; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo đầy đủ, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:

Trong thời gian từ khoảng 15 giờ 00 phút đến 15 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, nhà bị cáo H3 ở khu dân cư S, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, các bị cáo Trần Quang T, Nguyễn Văn T1, Chu Anh D, Nguyễn Anh T2 và Dương Quốc H3 đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, dưới hình thức đánh sâm, với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 12.380.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng), trong đó bị cáo T: 3.000.000đ ( Ba triệu đồng); bị cáo D: 3.880.000₫ ( Ba triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng, bị cáo T2: 2.700.000đ ( Hai triệu bảy trăm nghìn đồng); bị cáo T1: 2.800.000đ( Hai triệu tám trăm nghìn đồng).

Bị cáo H3 tuy không trực tiếp tham gia đánh bạc cùng các bị cáo trên, song: Bị cáo H3 là người đã tạo điều kiện thuận lợi như cho mượn địa điểm do mình sở hữu, chuẩn bị công cụ, thu tiền cảnh giới để các bị cáo D, T, T1 và T2 thực hiện hành vi đánh bạc. Bị cáo H3 còn thỏa thuận với các đối tượng nếu ai thắng sâm thì phải nộp số tiền 100.000đ ( một trăm nghìn đồng) /lần thắng sâm cho bị cáo H3. Việc bị cáo H3 chưa nhận được tiền mà những người thắng sâm nộp là nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo H3 và các đối tượng đánh bạc. Hành vi cho mượn địa điểm do mình sở hữu, canh gác cho các đối tượng khác đánh bạc để thu lời bất chính của bị cáo H3 tuy không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nhưng bị cáo H3 phải chịu trách nhiệm hình sự về đồng phạm với hành vi đánh bạc của các bị cáo D, T, T1 và T2.

Lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lới khai của người làm chứng, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận: các bị cáo Trần Quang T, Nguyễn Văn T1, Chu Anh D, Nguyễn Anh T2 và Dương Quốc H3 về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Qua đó thấy rằng,Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố các bị cáo cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 321 BLHS quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng cho đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

.........

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng nếp sống văn minh gây bất bình trong nhân dân, làm mất trật tự trị an của địa phương cũng như toàn xã hội. Hơn nữa nó còn là mầm mống gây nên các hậu quả nghiêm trong khác và là tệ nạn của xã hội bị Nhà nước nghiêm cấm.

Đây là vụ án đồng phạm có quy mô, tính chất thể hiện giản đơn; mục đích phạm tội là tư lợi, bị cáo Dương Quốc H3 là người đã tạo điều kiện thuận lợi như cho mượn địa điểm do mình sở hữu, chuẩn bị công cụ, thu tiền cảnh giới để các bị cáo D, T, T1 và T2 thực hiện hành vi đánh bạc. Bị cáo H3 còn thỏa thuận với các đối tượng nếu ai thắng sâm thì phải nộp số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng)/lần thắng sâm cho bị cáo H3, bị cáo H3 phải chịu trách nhiệm hình sự về đồng phạm với hành vi đánh bạc của các bị cáo D, T, T1 và T2; các bị cáo D, T, T1 và T2 đều là người thực hiện hành vi đánh bạc trong vụ án.

Xét về nguyên nhân, động cơ, điều kiện phạm tội: Các bị cáo đều có sự hiểu biết nhưng ý thức tuân theo pháp luật kém, không chịu khó lao động chân chính, tụ tập đông người sát phạt nhau để kiếm tiền bất hợp pháp.Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý. Do vậy, vụ án này cần được đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt thì cần xem xét đến nhân thân tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau :

Đối với bị cáo Trần Quang T tuy có nhân thân nhưng ngoài lần phạm tội này, bị cáo T chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú, tính từ ngày bị cáo T bị xử phạt vi phạm hành chính đến nay đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Đối với bị cáo thì hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là chưa cần thiết mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cùng gia đình theo quy định tại điều 36 Bộ luật hình sự cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo nhưng bị cáo phải lao động phục vụ cộng đồng theo khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự quy định “Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước…”. Song xét thấy bị cáo T lao động tự do, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo nhưng bị cáo phải lao động phục vụ cộng đồng theo quy định của pháp luật.

Đối với các bị cáo: D, T1, T2, H3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Xét thấy: Các bị cáo D, T1, T2, H3 có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 35 là hình phạt tiền cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3, điều 321 của Bộ luật Hình sự bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Đối với bị cáoTrần Quang T, bị cáo có tài sản là nhà và đất ở tại địa phương nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền để nộp ngân sách nhà nước.

Đối với các bị cáo Chu Anh D, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Anh T2 và Dương Quốc H3 do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không phạt bổ sung.

[5] Về vật chứng và các tài sản đồ vật tạm giữ:

Đối với số tiền 12.380.000 đồng ( Mười hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) trong đó bị cáo T: 3.000.000₫ ( Ba triệu đồng); bị cáo D: 3.880.000₫ ( Ba triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng), bị cáo T2: 2.700.000₫ ( Hai triệu bảy trăm nghìn đồng); bị cáo T1: 2.800.000đ ( Hai triệu tám trăm nghìn đồng) là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếc chiếu nhựa là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Quang T, Nguyễn Văn T1, Chu Anh D, Nguyễn Anh T2 và Dương Quốc H3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 BLHS đối với bị cáo T.

Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội” Đánh bạc”, xử phạt bị cáo Trần Quang T 12( mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/12/2023 đến ngày 28/12/2023, 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ được quy đổi bằng 09 (Chín) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 ( mười một) tháng 21 ( hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã P nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự và thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì áp dụng theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 BLHS đối với các bị cáo Chu Anh D, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Anh T2 và Dương Quốc H3.

Tuyên bố các bị cáo Chu Anh D, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Anh T2 và Dương Quốc H3 phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt các bị cáo Chu Anh D, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Anh T2 và Dương Quốc H3 mối bị cáo 25.000.000đ( Hai mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

- Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo T 10.000.000đ ( mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Chu Anh D, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Anh T2 và Dương Quốc H3.

- Xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước số tiền: 12.380.000 đồng (mười hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng), trong đó bị cáo T: 3.000.000₫ ( Ba triệu đồng) ; bị cáo D: 3.880.000₫ ( Ba triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng), bị cáo T2: 2.700.000₫ ( Hai triệu bảy trăm nghìn đồng); bị cáo T1: 2.800.000₫ ( Hai triệu tám trăm nghìn đồng) thu tại chiếu bạc.

- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01(một) chiếc chiếu nhựa.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Quang T, Nguyễn Văn T1, Chu Anh D, Nguyễn Anh T2 và Dương Quốc H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi gửi:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND thị xã Phú Thọ;
  • - Công an thị xã P;
  • - UBND phường A,
  • TX. P, T. P;
  • - Sở tư pháp;
  • - THAHS;
  • - Chi cục T6;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS-VP;

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Ngọc Hà

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thuý

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc T5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về đánh bạc

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger