Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:16/2024/HS-ST

Ngày 24-7-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Sang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Tiến Thanh

2. Ông Nguyễn Văn Thư.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:

Ông Ngô Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ tên: Nguyễn Thị N, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1985 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Đỗ Thị V (đã chết); Gia đình có 05 người con, bị cáo là con thứ tư trong gia đình. Có chồng là Phạm Minh C (đã ly hôn); Có 02 người con với chồng cũ, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015, có 01 người con riêng sinh năm 2022; Tiền sự; Tiền án: không.

Nguyễn Thị N bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/11/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ tên: Nguyễn Thị H, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1980 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Đỗ Thị V (đã chết); Gia đình có 05 người con, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Có chồng là Nguyễn Văn D; Có 02 người con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2004, Tiền sự; Tiền án: không.

Nguyễn Thị H bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng khác:

* Bị hại:

Chị Trịnh Thị G, sinh năm 1992 (có mặt)

Trú tại: Thôn A T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

  1. Vương Thị Hiền A (Vương Thị Huyền A1), sinh ngày 27/3/2008. Người giám hộ chị Trịnh Thị S (là mẹ đẻ). Vắng mặt
    Trú tại: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1980. Vắng mặt
    Trú tại: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  3. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1981.Vắng mặt
    Trú tại: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  4. Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1977. Vắng mặt
    Trú tại: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  5. Anh Vũ Đình S1, sinh năm 1993. Vắng mặt
    Trú tại: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  6. Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 1992.Vắng mặt
    Trú tại: Thôn D X, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  7. Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1994. Vắng mặt
    Trú tại: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  8. Chị Đỗ Thị H2, sinh năm 1967. Vắng mặt
    Trú tại: Thôn E X, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do chị Trịnh Thị G, sinh năm 1992, cư trú ở thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa đang còn nợ lại Nguyễn Thị N, sinh năm 1985, cư trú ở cùng thôn số tiền 15.000.000 đồng nên khoảng 18 giờ 20 phút ngày 11/11/2023, N đến Quán S Tít của chị G ở Thôn A T, xã H để đòi nợ, rồi giữa hai người xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi nhau về chuyện vay nợ tiền; lúc này có cháu Vương Thị Hiền A - tên gọi khác là Vương Thị Huyền A1, sinh ngày 27/3/2008, cư trú ở thôn H đang chơi ở Quán. Sau đó, N gọi điện thoại cho chị ruột là Nguyễn Thị H, sinh năm 1980, cư trú ở thôn H, xã H, bảo H đến Quán để nói chuyện với chị G, rồi N đi vào trong Quán xô đẩy bàn, ghế, kệ tủ đựng đồ trong Quán của chị G ra khu vực cửa Q định mang về để trừ nợ và nói: “Tao lấy đồ...”, chị G không đồng ý và nói: “Bà lấy đồ đạc của tôi là bà cướp đồ của tôi”. Cùng lúc này, thấy chị G đang cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Promax ở tay phải, N liền đi lại gần chị G định giật lấy chiếc điện thoại của chị G để trừ nợ, nhưng chị G né tránh nên N chưa lấy được.

Nghe qua điện thoại, biết N và chị G đang cãi nhau nên H nhờ chồng là anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1981 chở H đến Quán của chị G. Đến nơi, thấy N và chị G đang cãi nhau to tiếng, H đi vào trong Q chỉ tay vào mặt chị G nói: “... mày vay tiền con N, mày tự thu xếp nghe chưa”, rồi giữa chị G với HN to tiếng chửi bới nhau. N đi lại gần chị G giật điện thoại của chị G đang cầm ở tay phải, nhưng chị G giằng lại nên N không lấy được, thấy vậy chị G hét to: “Cướp này, đ... mẹ nó cướp đồ của tôi trong nhà ... mấy bà này...”. N tiếp tục xông vào, xô đẩy chị G vào phía trong Quán - ở chỗ kệ tủ sát tường ngay chân cầu thang và tát vào đầu, vào mặt chị G. H thấy vậy cũng xông vào túm cổ áo, túm tóc tát vào mặt, vào đầu chị G, chị G vùng vằng phản kháng để thoát ra, nhưng không được do bị N túm tóc ghì xuống. Chị G giơ hai tay lên để gỡ tay của N ra - lúc này tay phải của chị G vẫn đang cầm điện thoại. N túm tay phải chị G và gỡ tay chị G ra để giằng lấy điện thoại của chị G; thấy vậy, H hô to: “Lấy điện thoại của nó”. Do bị đánh đau và bị choáng nên chị G bị N giằng lấy được điện thoại. Sau khi lấy được điện thoại của chị G, N đi ra cửa Quán, H thấy vậy thì xua tay bảo N đi về. Chị G liền hô to: “... mày cướp điện thoại của tao, cả làng chứng kiến nó cướp điện thoại...”, đồng thời đi theo ra cửa Q để lấy lại điện thoại, nhưng bị H đứng chặn ở cửa Quán, không cho chị G đi ra và tiếp tục chửi bới chị G, còn N thì cầm điện thoại đã lấy được của chị G đi về nhà. Sau khi N đi về, H ở lại tiếp tục to tiếng chửi bới nhau với chị G, lấy chiếc đĩa sứ trên bàn thờ thần tài ngay ở cửa Quán ném về hướng chị G đứng, nhưng không trúng; sau đó, H được chồng can ngăn rồi chở về nhà. Trong quá trình diễn ra vụ việc, NH có nhiều câu nói có nội dung tuyên bố lấy đồ của chị G để trừ nợ, đe dọa, thách thức và xúc phạm chị G; chị G cũng có nhiều câu nói có nội dung cảnh báo hành vi của N là cướp tài sản và thách thức, xúc phạm NH.

Ngay sau khi về đến nhà, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nên N đưa chiếc điện thoại đã lấy của chị G cho cháu là anh Vũ Đình S1, sinh năm 1993, cư trú ở thôn H mang đến Quán của chị G đưa cho anh D để anh D trả lại cho chị G. Nhưng anh S1 cầm điện thoại đi gần đến Quán của chị G thì gặp anh D đang đi về, nên anh S1 cầm điện thoại quay về đưa lại cho N. Cùng ngày, chị Trịnh Thị G làm đơn trình báo và đề nghị giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H triệu tập Nga đến làm việc, N đã tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại.

Trong quá trình kiểm tra, xác minh và điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành:

Xem xét dấu vết trên thân thể chị Trịnh Thị GNguyễn Thị N, Nguyễn Thị H, phát hiện: Chị Trịnh Thị G có 01 vết sưng nề kích thước 03 x 02cm ở vùng sau tai phải, 01 vết tấy đỏ xước da không chảy máu dài 01cm ở dưới đầu mắt trái, 01 vết rách da không chảy máu kích thước 02 x 01cm ở cổ và 01 vết sưng nề bầm tím kích thước 03 x 03cm ở khủy tay trái, nhưng do thương tích không lớn nên chị G không yêu cầu giám định và không xem xét, xử lý về hành vi này; Nguyễn Thị N có 01 vết thâm bầm tím kích thước 02 x 02cm ở mặt ngoài cẳng tay phải; không phát hiện thấy dấu vết thương tích gì trên thân thể Nguyễn Thị H.

Thu giữ 01 đĩa sứ màu vàng bị vỡ thành 03 mảnh và khám nghiệm, xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc.

Thu giữ, niêm phong 01 đoạn video có thời lượng 15 phút 33 giây từ Camera của Quán S3 Tít lưu giữ trong USB và 01 đoạn video có thời lượng 08 phút 10 giây từ Camera của gia đình chị Tô Thị A2, sinh năm 1985 ở đối diện Quán S3 Tít lưu giữ trong USB ghi lại hình ảnh có âm thanh vụ việc, do chị G và chị A2 giao nộp; 01 đoạn video có thời lượng 01 phút 21 giây từ Camera của gia đình Nguyễn Thị N lưu giữ trong USB ghi lại hình ảnh có âm thanh thời điểm sau khi N cầm điện thoại đã lấy của chị G về nhà và đưa điện thoại cho anh S1 mang đi trả, do N giao nộp. Đồng thời, ghi âm tiếng nói của chị Trịnh Thị G, anh Nguyễn Văn DNguyễn Thị N, Nguyễn Thị H lưu giữ trong các đĩa DVD-R làm mẫu so sánh.

Ngày 12/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 162/QĐ-ĐCSHS - T1 Bộ C1 giám định 02 tệp video từ Camera do chị G và chị A2 giao nộp có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung không; có giọng nói của chị Trịnh Thị G, anh Nguyễn Văn DNguyễn Thị N, Nguyễn Thị H không; nếu có thì dịch nội dung cuộc hội thoại trong tệp video ra thành văn bản. Tại Kết luận giám định số 9162/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của V1 kết luận: Không tìm thấy dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung trong 02 tệp video gửi giám định; có giọng nói, hình ảnh của chị Trịnh Thị G, anh Nguyễn Văn DNguyễn Thị N, Nguyễn Thị H trong đoạn video do chị G giao nộp; kèm theo Kết luận giám định 01 Bản dịch nội dung âm thanh mẫu cần giám định gồm 09 trang khổ giấy A4; toàn bộ mẫu được niêm phong hoàn lại sau giám định.

Ngày 16/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 549/YC-ĐCSHS - đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H định giá chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Promax của chị G tại thời điểm bị chiếm đoạt. Tại Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐ ĐGTS ngày 16/11/2023 của Hội đồng định giá kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Promax, màu tím, dung lượng 128GB, đã qua sử dụng mua ngày 23/10/2023 trị giá 22.000.000 đồng.

Chị Trịnh Thị G, chị Tô Thị A2Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H đã được thông báo nội dung Kết luận định giá tài sản và Kết luận giám định. Cả bốn người đều đồng ý với Kết luận định giá tài sản, Kết luận giám định và không có ý kiến hay đề nghị gì.

Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Sau khi xác minh nguồn gốc, kiểm tra, sao chụp nhật ký các cuộc gọi và tin nhắn trong điện thoại của chị G. Ngày 30/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại điện thoại cho chị G; chị G đồng ý và không có yêu cầu hay đề nghị gì liên quan đến điện thoại.

Về trách nhiệm dân sự: Theo báo cáo của chị G thì trong quá trình giằng co, xô xát với nhau tại Quán, chị G còn bị hư hỏng 02 máy phun xăm và 01 máy nano là dụng cụ làm nghề Spa. Ngày 04/12/2023, sau khi tự nguyện thỏa thuận với nhau, NH đã bồi thường thiệt hại về máy móc, thiết bị và đĩa sứ bị vỡ, hư hỏng cho chị G với tổng số tiền 6.000.000 đồng; chị G đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu hay đề nghị gì liên quan đến đĩa sứ và số máy móc, thiết bị vỡ, hư hỏng. Ngoài ra quá trình điều tra chị G yêu cầu bồi thường thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng về sức khỏe, tinh thần với số tiền 100.000.000 đồng. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử chị G và các bị cáo thỏa thuận bồi thường cho chị G số tiền 20.000.000 đồng. Trong đó trừ vào số tiền chị G còn nợ chị N 15.000.000 đồng và nhận tiền mặt trực tiếp số tiền 5.000.000 đồng. Chị G đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì đồng thời chị G có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Các USB, đĩa DVD-R lưu giữ các video và giọng nói được đưa vào hồ sơ vụ án, 03 mảnh đĩa sứ vỡ hiện đang bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để thi hành án theo quyết định của bản án.

Tại cáo trạng số 18/CT-VKSHL ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 BLHS.

Xét tính chất, mức độ, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm về việc truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điều 168 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị NNguyễn Thị H phạm Tội cướp tài sản.

  • + Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 168; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58; Điều 38; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N mức án từ 27 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H mức án từ 21 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 42 đến 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú và gia đình các bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • + Hình phạt bổ sung: Vụ án xảy ra xuất phát từ quan hệ dân sự - bị hại vay nợ tiền bị cáo, đã quá hạn trả nợ theo thỏa thuận nhưng bị cáo đòi nhiều lần mà bị hại không trả và xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Vì vậy, các bị cáo bức xúc nên đã thực hiện hành vi bắt nợ trái pháp luật, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 03 mảnh đĩa sứ vỡ hiện đang bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

- Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường và nhận bồi thường xong toàn bộ thiệt hại trong vụ án và không xem xét, giải quyết.

- Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Sau khi thẩm tra lời khai của các bị cáo, bị hại và những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. HĐXX xác định:

Do có quan hệ vay nợ tiền từ trước nên khoảng 18 giờ 20 phút ngày 11/11/2023, Nguyễn Thị NNguyễn Thị H đến Quán S Tít của chị Trịnh Thị GThôn A T, xã H, huyện H để đòi nợ và đòi lấy tài sản để trừ nợ, rồi hai bên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi nhau về chuyện vay nợ tiền. Sau đó, NH dùng tay đánh chị G, rồi N giật lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Promax trị giá 22.000.000 đồng của chị G đang cầm ở tay phải mang về nhà, nhằm mục đích để trừ nợ. Hành vi của Nguyễn Thị NNguyễn Thị H đủ yếu tố cấu thành tội "Cướp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 168 BLHS.

Cáo trạng số 18/CT-VKSHL ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H về tội: “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Nguyễn Thị N là người trực tiếp thực hiện việc chiếm đoạt tài sản nên vai trò đầu trong vụ án, Nguyễn Thị H tiếp nhận ý chí của N, thực hành giúp sức nên có vai trò thứ hai.

Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện việc coi thường pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe, quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn công cộng tại địa phương nên cần có đường lối xử lý nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tài sản chiếm đoạt đã được giao trả cho bị hại, đã bồi thường khắc phục hậu quả bằng việc bồi thường thiệt hại vật chất cho bị hại; bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nên đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra Nguyễn Thị N trong quá trình sinh sống tại địa phương có tinh thần tương thân tương ái hay giúp đỡ mọi người được thể hiện trong các hoạt động thiện nguyện, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận nên được xem xét thêm về tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Trong vụ án Nguyễn Thị N có vai trò đầu nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng để cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên xét thấy bị cáo nhận thức pháp luật chủ quan, động cơ mục đích chiếm đoạt tài sản là để thu hồi nợ. Trong đó một phần cũng từ ý thức, thái độ, cách cư xử của bị hại là người đang có nghĩa vụ trong quan hệ vay nợ của mà dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Ngoài ra bản thân bị cáo N là mẹ đơn thân đang nuôi con nhỏ nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, áp dụng điều 54 BLHS, cho bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng và cho bị cáo được hưởng án treo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo lao động cải tạo tại địa phương.

Đối với Nguyễn Thị H có vai trò giúp sức, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, áp dụng điều 54 BLHS, xem xét cho bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng và cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện để bị cáo lao động cải tạo tại địa phương.

[4] Về hình phạt bổ sung: Mục đích chiếm đoạt tài sản là từ quan hệ tranh chấp dân sự nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận và đã bồi thường các khoản chi phí về tổng số tiền 26.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại chị Trịnh Thị G 01 điện thoại đã bị chiếm đoạt là đúng quy định.

Đối với vật chứng đã thu giữ 03 mảnh đĩa sứ vỡ không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ: - khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58; Điều 65 BLHS.
  • * Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H phạm tội “Cướp tài sản”.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 30 (ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H cho UBND xã H, huyện H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình các bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.

  • * Về dân sự: Ghi nhận việc thỏa thuận bồi thường dân sự trong vụ án: Các bị cáo và bị hại thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự xong với tổng số tiền 26.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
  • * Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm 03 mảnh đĩa sứ vỡ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
  • * Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • * Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hậu Lộc;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Tòa án ND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc;
  • - Công an huyện Hậu Lộc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Sang

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn S2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA về cướp tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger