|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 16/2024/HS-ST Ngày: 24-5-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng;
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Văn Riều;
- Ông Nguyễn Thanh Tùng;
- - Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trường Bảo V - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Huỳnh Hữu K (Trãi), sinh năm 1991 tại tỉnh Tiền Giang; Căn cước công dân số [...] cấp ngày 22/02/2023; Nơi cư trú: Ấp H, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở: Ấp H, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Minh Q và bà: Nguyễn Thị Đ; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/01/2024, tạm giam ngày 26/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố G, tỉnh Tiền Giang; Có mặt tại phiên tòa;
* Người bị hại: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1993 (Vắng mặt);
Nơi cư trú: ấp Ô, xã T, thành phố G, tỉnh Tiền Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng gần trưa ngày 16/01/2024 bị cáo K điều khiển xe mô tô biển số 63B7- 035.28 đi một mình từ hướng Cầu M và đường nhỏ gần Công an xã B chạy theo đường đê. Khi đến khu vực ấp Ô, xã T, thành phố G thì xe chạy chậm, nhìn xung quanh thấy nhà của ông Nguyễn Văn C đang đóng cửa bên trong nhưng cửa rào bên ngoài thì không khoá. Bị cáo K điều khiển xe chạy vào nhà ông C, nhìn xung quanh không tìm được tài sản gì có giá trị nên bị cáo ngồi dựa vào cửa nhà, nhìn qua khe cửa thì thấy bên trong có một chiếc xe hai bánh loại Exciter, biển số 63B6- 364.15 đang dựng trên xe còn chìa khoá. Bị cáo K có ý định trộm chiếc xe này nên tìm cách đột nhập vào trong nhà. Sau khi thử xô cửa vào không được, bị cáo K nhặt mảnh kim loại nhỏ ở quanh nhà rồi nại chốt cửa bên phải thì chốt cửa bật lên, bị cáo K đẩy cửa vào trong nhà, mảnh kim loại sau khi dùng thì vứt bỏ, không nhớ bỏ vị trí nào.
Bị cáo K dẫn xe biển số 63B6- 364.15 từ trong nhà ra sân rồi điều khiển ra con đường phía trước, bỏ lại xe biển số 63B7- 035.28. Nhận thấy xe 63B6- 364.15 gần hết xăng bị cáo K điều khiển xe quay ngược lại sân nhà ông C vào trong nhà, bị cáo K phát hiện trên bàn trong phòng khách có một loa tháp S1- T40 thì tiếp tục lấy trộm cái loa này. Sau đó điều khiển xe 63B6- 364.15 chạy ra hướng Quốc lộ E đi thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến thành phố Hồ Chí Minh bị cáo K bán chiếc loa trộm được cho người đàn ông mua bán hàng dạo dọc đường với giá 300.000 đồng, số tiền này bị cáo K đã tiêu xài hết. Bị cáo K điều khiển xe 63B6- 364.15 về lại thị xã G, đến sáng ngày 17/01/2024 thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (Một) xe mô tô hai bánh 63B6- 364.15, loại Yamaha Exciter, màu sơn xanh đen, số khung RLCUG0610JY706588, số máy G3D4E734914;
- - 01 (Một) xe mô tô hai bánh 63B7- 035.28, loại Yamaha Exciter, màu sơn đỏ - đen - bạc, do ông Nguyễn Văn C giao nộp;
- - 01 (Một) đĩa DVD do ông C giao nộp, bên trong có chứa 02 tệp video thu được từ camera quan sát ghi lại diễn biến, hình ảnh vụ trộm cắp tài sản do bị cáo K thực hiện.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã G (Nay là thành phố G) kết luận:
- - 01 (Một) xe mô tô hai bánh 63B6-364.15, loại Yamaha Exciter, màu sơn xanh đen, số khung RLCUG0610JY706588, số máy G3D4E734914; đã qua sử dụng giá trị 15.300.000 đồng.
- - 01 (Một) loa tháp S1- T40; đã qua sử dụng giá trị 1.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt có giá 16.300.000 đồng (Mười sáu triệu ba trăm nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 16/VKS-HS ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công (Nay là thành phố G), tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Huỳnh Hữu K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Hữu K phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu K 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2024.
Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD (Đã qua giám định) do ông C nộp.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 589 Bộ luật hình sự năm 2015 buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Văn C số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Về số tiền thu lại bất chính: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự buộc bị cáo nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính nộp vào ngân sách nhà nước.
Về án phí hình sự: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 bị cáo K nộp 200.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Hữu K đã khai nhận: Do bị cáo bị một người bạn gái mượn một số tiền lớn, rồi bỏ trốn lên Bình Dương, bị cáo không có xe đi nên trộm xe để làm phương tiện đi Bình Dương tìm gặp người thiếu tiền để đòi, khoảng gần trưa ngày 16/01/2024 bị cáo điều khiển xe mô tô hai bánh loại Sirius màu trắng- đen, biển số 63B7- 035.28 đi một mình từ thành phố Hồ Chí Minh về. Khi đến cầu M bị cáo rẽ theo hướng đường đê, khi đến khu vực ấp Ô, xã T thì xe bị hư, sắp hết xăng, cho xe chạy chậm lại, bị cáo nhìn xung quanh thấy nhà ông C đóng cửa bên trong, bên ngoài rào không có khoá, bị cáo điều khiển xe vào bên trong trước nhà nhìn xung quanh để tìm nhưng không thấy tài sản có giá trị. Sau đó bị cáo ngồi dựa vào cửa nhà nhìn vào qua khe cửa thấy bên trong nhà có dựng 01 xe mô tô 02 bánh loại Exciter, biển số 63B6- 364.15, trên xe có cắm chìa khoá, bị cáo đã tìm một mảnh kim loại nại chốt cửa và lấy trộm xe. Bị cáo bỏ lại chiếc xe Sirius, dẫn chiếc Exciter ra san rồi điều khiển x era con đường phía trước, chạy được khoảng 300m thì xe hết xăng, bị cáo quay xe trở lại nhà ông C trộm chiếc loa tháp hiệu Samsung bán cho một người ở quận H, không biết tên và địa chỉ với giá 300.000 đồng, đã tiêu xài hết tiền, rồi điều khiển xe trở về thành phố G thì bị bắt vào ngày 17/01/2024.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã G (Nay là thành phố G) kết luận:
- - 01 (Một) xe mô tô hai bánh 63B6- 364.15, loại Yamaha Exciter, màu sơn xanh đen, số khung RLCUG0610JY706588, số máy G3D4E734914; đã qua sử dụng giá trị 15.300.000 đồng.
- - 01 (Một) loa tháp S1- T40; đã qua sử dụng giá trị 1.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt có giá 16.300.000 đồng (Mười sáu triệu ba trăm nghìn đồng).
[3]. Lời khai nhận của bị cáo Huỳnh Hữu K phù hợp với lời khai của người bị hại, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, diễn biến tại phiên toà. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Huỳnh Hữu K phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công (Nay là thành phố G) truy tố bị cáo Huỳnh Hữu K về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng.
[4]. Về động cơ, mục đích của tội phạm: Bị cáo Huỳnh Hữu K có đầy đủ sức khỏe và năng lực hành vi, nhưng chỉ vì chây lười lao động, khi phát hiện tài sản không người trông coi bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được luật pháp nhà nước ta bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và ngăn ngừa chung cho xã hội.
[5]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, bị cáo nhân thân xấu, bị Công an huyện G, tỉnh Tiền Giang xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 08/10/2019; Ngày 22/4/2020 bị Toà án nhân dân thị xã Gò Công (Nay là thành phố G), tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 10/2020/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 20/4/2021.
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo Huỳnh Hữu K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7]. Về xử lý vật chứng: 01 chiếc xe mô tô 02 bánh nhãn hiệu Yamaha, E. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sử dụng là chị Trần Thị Kim N đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
01 đĩa DVD do ông C giao nộp tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 589 Bộ luật hình sự năm 2015 buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Văn C số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Về số tiền thu lại bất chính: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự buộc bị cáo nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính nộp vào ngân sách nhà nước.
[9]. Theo qui định tại khoản 5 điều 173 của Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.
[10]. Về án phí hình sự: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 bị cáo K nộp 200.000 đồng.
[11]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Hữu K (T) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu K 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2024.
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD do ông Nguyễn Văn C giao nộp.
- Căn cứ Điều 584, 589 Bộ luật hình sự;
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Hữu K bồi thường cho ông Nguyễn Văn C số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo Huỳnh Hữu K nộp lại số tiền thu lợi bất chính 300.000 đồng để sung quỹ Nhà nước, thời gian nộp tiền sau khi án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;
- Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Hữu K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa LÊ THỊ HẰNG |
Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 16/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP TÀI SẢN
