TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-4-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đào
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
- Bà Lương Thị Bảo Thùy.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 580/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/4/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Thái Thị Kim N, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Số A đường H, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
- - Bị đơn: Ông Trần Thanh D1, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Số A đường H, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
(Bà N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông D1 vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10-8-2023, các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn bà Thái Thị Kim N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị Kim N xác nhận bà và ông Trần Thanh D1 chung sống với nhau năm 1999, đến năm 2001 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn X, huyện L (nay là phường X, thành phố L), tỉnh Đồng Nai.
Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, ông D1 không có trách nhiệm với gia đình, giao phó toàn bộ công việc gia đình, nuôi dạy con cái cho một mình bà N tự gánh vác. Ông D1 thường xuyên tụ tập bạn bè và đi chơi qua đêm, có khi 04 đến 05 ngày mới về nhà một lần. Mâu thuẫn kéo dài và ngày càng trầm trọng, bà N nhận thấy cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông Trần Thanh D1 để ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung: Theo bà N, vợ chồng có 02 con chung là Trần Thái Thanh A, sinh 03/11/1999 và Trần Thái K, sinh ngày 03/7/2010. Khi ly hôn, bà N yêu cầu nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Thái K, không yêu cầu ông D1 cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Trần Thái Thanh A đã thành niên, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà N, vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.
Bị đơn ông Trần Thanh D1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông D1 vẫn vắng mặt, do đó không có lời khai.
Để có cơ sở giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai người làm chứng là bà Nguyễn Thị Kim H (mẹ ruột ông D1) và bà Trần Thị Thanh T (chị ruột của ông D1). Bà H và bà T đều xác nhận quá trình chung sống thường thấy bà N và ông D1 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông D1 không lo làm ăn, thường xuyên gặp gỡ bạn bè, sử dụng rượu bia, không quan tâm đến vợ con.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay, đảm bảo khách quan, vô tư, đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng bà Thái Thị Kim N và ông Trần Thanh D1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, cho bà N và ông D1 ly hôn.
Về con chung: Ghi nhận ý kiến của cháu Trần Thái K, sinh ngày 03/7/2010 đề nghị giao cháu K cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời ông D1 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu.
Riêng cháu Trần Thái Thanh A đã thành niên, có khả năng lao động, đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà N khai không có, không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Bà N chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Thái Thị Kim N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Thanh D1 và tranh chấp về nuôi con là Trần Thái K, sinh ngày 03/7/2010. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông Trần Thanh D1 có nơi cư trú tại: Khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Bà N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông D1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trong vụ án.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Thái Thị Kim N và ông Trần Thanh D1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 02/4/2001 tại Ủy ban nhân dân thị trấn X, huyện L (nay là phường X, thành phố L), tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
[4] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Bà N cho rằng quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông D1 thường xuyên tụ tập bạn bè sử dụng rượu, bia, không quan tâm đến vợ con, phó mặc trách nhiệm nuôi dạy con cái cho bà N, lời khai của bà N phù hợp với lời khai của những người làm chứng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập ông D1 tham gia các phiên hòa giải nhưng ông D1 không có mặt, điều đó thể hiện ông D1 không có thiện chí hòa giải đoàn tụ gia đình. Xét mâu thuẫn gia đình bà N, ông D1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, thì yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông D1 là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Khi ly hôn, bà N yêu cầu nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Thái K. Hiện nay, cháu K đang do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, cháu K cũng đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng sống cùng với mẹ. Do đó, giao con chung là Trần Thái K, sinh ngày 03/7/2010 cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp với nguyện vọng, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cháu. Về cấp dưỡng nuôi con, do bà N không yêu cầu nên không xem xét.
Riêng cháu Trần Thái Thanh A đã thành niên, có khả năng lao động, bà N không yêu cầu nên không xem xét.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Bà N khai không có và không yêu cầu Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bà N là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, do đó bà N phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
[9] Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 9; Điều 11 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000; Điều 51, 56, 69, 70, 81, 82, 83, 84; 131 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị Kim N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với ông Trần Thanh D1.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Thái Thị Kim N và ông Trần Thanh D1 ly hôn.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Trần Thái K, sinh ngày 03/7/2010 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời ông D1 không phải cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu.
Riêng cháu Trần Thái Thanh A đã thành niên, có khả năng lao động, bà N không yêu cầu nên không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà N khai không có và không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Bà Thái Thị Kim N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà N đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0008349 ngày 06-11-2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Bà P đã nộp đủ án phí.
- Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Đào |
Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 16/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thái Thị Kim Nhung - ly hôn
