Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHĨA ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 24/4/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Phan Quang Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Hòa

2. Ông Trần Xuân Huệ

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị An – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 48/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST -HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1995 (có đơn xin xử vắng mặt)

Trú tại: Xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An

- Bị đơn: Anh Vi Văn Â, sinh năm 1995 (vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 13 tháng 01 năm 2024 và trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vi Văn  có đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 4 năm 2015 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng với bố mẹ anh Â. Thời gian đầu sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Đến đầu năm 2019, anh  hay rượu chè, đánh đập chị nhiều lần. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống. Đến năm 2020 chị đi làm ăn xa ít khi về nhà, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không có tiếng nói chung nên anh  ít liên lạc với chị. Chị và anh  ly thân từ đó đến nay. Mặc dù đã nhiều lần hoà giải nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị nhận thấy cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị được giải quyết ly hôn với anh Vi Văn Â.

Về con chung: Chị và anh  có ba con chung là cháu Vi Thị Mỹ D, sinh ngày 27/02/2013; cháu Vi Nguyên K, sinh ngày 11/3/2015 và cháu Vi Hải Đ sinh ngày 25/3/2018. Chị có nguyện vọng muốn nuôi dưỡng cháu D, để cho anh  và bố mẹ anh  nuôi dưỡng cháu K và cháu Đ. Chị không yêu cầu anh  phải cấp dưỡng nuôi con chung, chị đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung cho anh  mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Vi Văn Á:

Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh  biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh  nhưng anh  vẫn không có mặt để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết các tài liệu, chứng cứ tại địa phương nơi anh  cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.
  • - Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị C là cho ly hôn với anh Vi Văn Â; Việc nuôi con: Đề nghị Hội đồng xét xử giao hai con chung Vi Nguyên K, sinh ngày 11/3/2015 và V1 sinh ngày 25/3/2018 cho anh  được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành; giao con chung Vi Thị Mỹ D, sinh ngày 27/02/2013 cho chị C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh  do chị C không yêu cầu. Chị C phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh  mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng ; Về tài sản chung, nợ chung do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về án phí: nguyên đơn chị Hoàng Thị C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài vào lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Hoàng Thị C có ĐKHKTT tại xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An yêu cầu ly hôn với anh Vi Văn  là bị đơn có nơi cư trú tại xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh  biết nhưng anh  không đến và không có ý kiến gì. Tòa án đã giao các tài liệu, giấy tờ cho bố của anh  là ông Vi Văn X nhận thay và cam kết giao lại cho anh Â. Ông X đồng ý là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K và cháu Đ. Khi nào anh  trở về nhà sinh sống thì ông sẽ giao cháu K, cháu Đ lại cho anh  trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết các tài liệu, giấy triệu tập và các chứng cứ tại địa phương nơi anh  cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn V có đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 4 năm 2015 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống. Mặc dù đã nhiều lần hoà giải nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị nhận thấy cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị được giải quyết ly hôn với anh Vi Văn Â.

2.2. Về nuôi con chung: Chị C và anh  có ba con chung là cháu Vi Thị Mỹ D, sinh ngày 27/02/2013; cháu Vi Nguyên K, sinh ngày 11/3/2015 và cháu Vị Hải Đ sinh ngày 25/3/2018. Thời gian chị C và anh  sống ly thân thì cả ba con chung sống cùng với bố mẹ anh  được học tập và điều kiện sống đảm bảo, anh  đi làm ăn vẫn thường xuyên liên lạc về cho bố là ông X qua điện thoại, cháu K có đơn trình bày nguyện vọng muốn được ở với bố. Chị C trình bày có nguyện vọng muốn nuôi dưỡng cháu D và cháu D cũng có đơn trình bày muốn được ở với mẹ. Chị đồng ý để cho anh  và bố mẹ anh  nuôi dưỡng cháu K và cháu Đ. Chị không yêu cầu anh  phải cấp dưỡng nuôi con chung, chị đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung cho anh  mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao hai con chung là cháu K và cháu Đ cho anh  trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành;

giao cháu D cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh  do chị C không yêu cầu. Chị C có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh  mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng, tính từ tháng 4 năm 2024 cho đến khi con chung thành niên.

Chị C và anh  có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: chị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228, Điều 357, Điều 468 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 58, điều 81, điều 82, điều 83, điều 84 và điều 110 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị C là cho chị C được ly hôn với anh Vi Văn Â.
  2. Việc nuôi con: Giao hai con chung Vi Nguyên K, sinh ngày 11/3/2015 và V1 sinh ngày 25/3/2018 cho anh Vi Văn  được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành; Giao con chung Vi Thị Mỹ D, sinh ngày 27/02/2013 cho chị Hoàng Thị C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh  do chị C không yêu cầu. Chị C có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh  3.000.000 đồng/tháng, tính từ tháng 4 năm 2024 cho đến khi con chung thành niên.
  3. Kể từ ngày anh  có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng, bên phải thi hành án (chị C) còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  4. Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
  6. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án chị Hoàng Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chunh. Chị C đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012254 ngày 06 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn nên chị C còn phải nộp thêm số tiền 300.000 đồng.
  7. Nguyên đơn chị Hoàng Thị C có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Vi Văn  quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND huyện Nghĩa Đàn
  • - Chi cục THADS huyện Nghĩa Đàn
  • - Các đương sự
  • - UBND xã Nghĩa Lộc, huyện Nghĩa Đàn (Nơi thực hiện ĐKKH)
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Quang Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HNGĐ - ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 16/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger