Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHĨA ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 24/4/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Phan Quang Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Hoà

2. Ông Trần Xuân Huệ

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị An – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 52/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST -HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Vi Thị T, sinh năm 1986 (có mặt)
  • Trú tại: Làng C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An
  • - Bị đơn: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1979 (vắng mặt)
  • Trú tại: Làng C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn và trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vi Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T1 có đăng ký kết hôn vào ngày 07 tháng 4 năm 2007 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên anh T1 nhiều lần đánh đập chị T, thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn. Chị và anh T1 ly thân từ tháng 7 năm 2023 đến nay, trong thời gian ly thân cả hai bên không còn quan tâm đến nhau. Chị nhận thấy cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng đã không còn nên chị đề nghị được giải quyết ly hôn với anh Lê Văn T1.

Về con chung: Chị và anh T1 có ba con chung là Lê Ngọc A, sinh ngày 22/8/2008; Lê Thị T2, sinh ngày 05/5/2010 và Lê Thu H, sinh ngày 20/7/2015. Chị có nguyện vọng muốn nuôi dưỡng cả ba con chung và không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Lê Văn T1:

Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh T1 biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh T1 nhưng anh T1 từ chối nhận và không có mặt để giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.
  • - Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị T là cho ly hôn với anh Lê Văn T1; Việc nuôi con: Đề nghị Hội đồng xét xử giao ba con chung là Lê Ngọc A, sinh ngày 22/8/2008, Lê Thị T2, sinh ngày 05/5/2010 và Lê Thu H, sinh ngày 20/7/2015 cho chị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T1 do chị T không yêu cầu; Về tài sản chung, nợ chung do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về án phí: nguyên đơn chị phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài vào lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của chị Vi Thị T.

- Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: Anh Lê Văn T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định tại Điều 227 và 228 – Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị T và anh Lê Văn T1 có quan hệ hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên anh T1 nhiều lần đánh đập chị T, thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn. Chị T và anh T1 ly thân từ tháng 7 năm 2023 đến nay, trong thời gian ly thân cả hai bên không còn quan tâm đến nhau. Đối với anh T1 mặc dù Toà án đã nhiều lần triệu tập anh T1 đến Toà án để hoà giải nhưng anh vẫn cố tình không lên, điều đó thể hiện anh T1 không có thiện chí hoà giải để vợ chồng về chung sống với nhau. Xét thấy tình cảm của cả hai bên đều không còn nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vi Thị T và được ly hôn với anh Lê Văn T1.

2.2. Về nuôi con chung: Chị T và anh T1 có ba con chung là cháu Lê Ngọc A, sinh ngày 22/8/2008; cháu Lê Thị T2, sinh ngày 05/5/2010 và cháu Lê Thu H, sinh ngày 20/7/2015. Nguyện vọng của chị T ly hôn là được nuôi cả ba con chung, không yêu cầu anh T1 phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Xét nguyện vọng của chị T là hoàn toàn phù hợp vì hiện tại chị T có thu nhập ổn định, ba cháu cần được sự chăm sóc của người mẹ, cả ba cháu đều có đơn trình bày nguyện vọng muốn được ở cùng với mẹ. Mặt khác, Toà án đã nhiều lần triệu tập anh T1 lên Toà án làm việc nhưng anh T1 đều không chấp hành. Để cuộc sống các con chung được ổn định, không bị xáo trộn về mặt sinh hoạt, học tập và xét về các điều kiện chăm sóc con cho tốt nên cần giao ba con chung cho chị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chung thì chị T không yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T1.

[5] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 - Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81, 82, 83 và Điều 84 - Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Vi Thị T là cho chị T được ly hôn với anh Lê Văn T1.
  2. Việc nuôi con: Giao ba con chung là Lê Ngọc A, sinh ngày 22/8/2008; Lê Thị T2, sinh ngày 05/5/2010 và Lê Thu H, sinh ngày 20/7/2015 cho chị Vi Thị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T1 do chị T không yêu cầu.
  3. Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
  5. Về án phí: Chị Vi Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T đã nộp đủ 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012259 ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND xã Nghĩa Mai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Quang Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HNGĐ - ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 17/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger