TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST Ngày 23/5/2024 “V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Hùng Hưng;
- Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Lê Thị Cần;
- 2. Ông Phạm Văn Miền.
- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Lê Lâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Cơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Diệp - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/4/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có mặt);
Bị đơn: Bà Trương Thị T1 (Trương Thị Hoài T2), sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn, ông Nguyễn Ngọc T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Trương Thị T2 trải qua thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào năm 1996. Tuy nhiên, theo ông thì Giấy chứng nhận kết hôn này không hợp lệ nên đầu năm 2024, ông và bà T2 đăng ký kết hôn lại và được Ủy ban nhân dân xã I cấp lại Giấy chứng nhận kết hôn khác vào ngày 23/02/2024.
Cuộc sống vợ chồng tương đối hòa thuận, hạnh phúc trong thời gian dài. Tuy nhiên, từ năm 2020 đến nay, cuộc sống vợ chồng nảy sinh bất hòa, mâu thuẫn nhau. Mâu thuẫn trở nên trầm trọng từ năm 2022 cho đến nay. Vợ chồng thường hay cãi vã nhau, xúc phạm nhau và không tôn trọng nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đến nay đã thực sự trầm trọng.
Năm 2023, ông cũng đã một lần nộp đơn đến Tòa án để giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, sau đó ông đã rút đơn khởi kiện.
Sau đó, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng vẫn không được cải thiện. Mâu thuẫn vợ chồng vẫn nghiêm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 12 năm 2023 Âm lịch. Vợ chồng đã tự thỏa thuận chia tài sản chung. Ông yêu cầu được ly hôn với bà Trương Thị T2.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung gồm: Nguyễn Thị Thanh T3, sinh ngày 10/11/1996 và Nguyễn Tấn T4, sinh ngày 16/5/2007. Nguyễn Thị Thanh T3 đã thành niên nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông nhất trí giao cháu T4 cho bà T2 nuôi dưỡng. Ông có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T4 mức 1.500.000 đồng/tháng tính từ tháng 5/2024 cho đến khi cháu T4 đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn, bà Trương Thị T2 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Ngọc T có trải qua thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào năm 1996. Bà và ông T đăng ký kết hôn lại vào ngày 23/02/2024 như ông T trình bày.
Trong cuộc sống vợ chồng cũng có xảy ra mâu thuẫn nhưng có thể giải quyết được. Hiện tại, ông T có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác. Vì thế, vợ chồng xảy ra bất đồng, mâu thuẫn với nhau, nhiều lần có lời nói xúc phạm nhau. Bà và ông T đã sống ly thân nhau từ cuối năm 2023. Vì thương các con, bà không muốn ly hôn. Bà mong muốn vợ chồng trở về đoàn tụ với nhau.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung gồm Nguyễn Thị Thanh T3, sinh ngày 10/11/1996 và Nguyễn Tấn T4, sinh ngày 16/5/2007. Nguyễn Thị Thanh T3 đã thành niên nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nuôi dưỡng.
Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn, bà nhận nuôi cháu T4 và yêu cầu ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T4 mức 2.000.000 đồng/tháng tính từ tháng 5/2024 cho đến khi cháu T4 đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà T2 cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản ghi ý kiến ngày 25/3/2024: Nguyện vọng của cháu Nguyễn Tấn T4 mong muốn được sống với bà T2.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117, 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho ly hôn giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Trương Thị T2. Giao cháu Nguyễn Tấn T4 cho bà T2 trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T4 mức 1.500.000 đồng/tháng tính từ tháng 5/2024 cho đến khi cháu T4 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động được.
Buộc ông T chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Ông Nguyễn Ngọc T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Trương Thị T2. Ông T là người có quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà T2 tự nguyện đăng ký kết hôn và được UBND xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhân kết hôn ngày 14/9/1996. Theo ông T và bà T2 trình bày là do Giấy chứng nhận kết hôn thể hiện không đúng tên và ngày, tháng, năm sinh của bà T2, không đúng năm sinh của ông T nên ông, bà đăng ký kết hôn lại và được Ủy ban nhân dân xã I cấp lại Giấy chứng nhận kết hôn khác vào ngày 23/02/2024.
Chứng cứ do đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập có căn cứ xác định ông T và bà T2 có 02 Giấy chứng nhận kết hôn khác nhau, gồm:
Giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/9/1996 của Ủy ban nhân dân xã I thể hiện tên vợ: Trương Thị Hoài T2, sinh ngày 09/02/1973, tên chồng: Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 11/10/1972.
Giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/02/2024 của Ủy ban nhân dân xã I thể hiện tên vợ: Trương Thị T2, sinh ngày 02/9/1972, tên chồng: Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 11/10/1973.
UBND xã I, huyện Đ xác nhận: Việc cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho ông T và bà T2 vào ngày 23/02/2024 là cấp lại Giấy chứng nhận kết hôn.
Từ đó, có căn cứ để nhận định, ông T và bà T2 kết hôn từ năm 1996 và hôn nhân của họ là hợp pháp.
Ông T cho rằng, từ năm 2020 đến nay, cuộc sống vợ chồng nảy sinh bất hòa, mâu thuẫn nhau. Mâu thuẫn trở nên trầm trọng từ năm 2022 cho đến nay. Vợ chồng thường hay cãi vã nhau, xúc phạm nhau và không tôn trọng nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đến nay đã thực sự trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ cuối năm 2023.
Bà T2 thừa nhận, vợ chồng nhiều lần xảy ra mâu thuẫn. Ông T có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác. Vợ chồng đã sống ly thân nhau và đã thỏa thuận chia tài sản chung. Vì thương các con, bà không đồng ý ly hôn. Đợi cháu T4 học xong lớp 12, nếu ông T tiếp tục xin ly hôn thì bà sẽ đồng ý.
Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân là sự gắn kết tình cảm vợ chồng. Vợ chồng phải yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà T2 đã mâu thuẫn trầm trọng. Ông T không còn tình cảm vợ chồng với bà T2, không còn mong muốn chung sống cùng bà T2 nên yêu cầu được ly hôn.
Như vậy, có căn cứ nhận định giữa ông T và bà T2 đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Xét yêu cầu ly hôn của ông T là có căn cứ. Cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho ông T ly hôn với bà T2.
[2.2] Về con chung: Ông T và bà T2 có 02 con chung gồm: Nguyễn Thị Thanh T3, sinh ngày 10/11/1996 và Nguyễn Tấn T4, sinh ngày 16/5/2007. Đối với Nguyễn Thị Thanh T3 đã thành niên nên không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nuôi dưỡng.
Bà T2 đề nghị nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn, bà nhận nuôi cháu T4 và yêu cầu ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T4 mức 2.000.000 đồng/tháng tính từ tháng 5/2024 cho đến khi cháu T4 đủ 18 tuổi.
Nguyện vọng của cháu T4 là được sinh sống cùng với bà T2.
Ông T nhất trí giao cháu T4 cho bà T2 nuôi dưỡng. Ông có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T4 mức 1.500.000 đồng/tháng tính từ tháng 5/2024 cho đến khi cháu T4 đủ 18 tuổi.
Xét yêu cầu nuôi con chung của bà T2 là có căn cứ, cần áp dụng các Điều 81, 82, 83, 84, 110,116, 117, 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình giao cháu Nguyễn Tấn T4 cho bà T2 trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T4 mức 1.500.000 đồng/tháng, thời gian bắt đầu cấp dưỡng tính từ tháng 5/2024 cho đến khi cháu T4 đủ 18 tuổi.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông T và bà T2 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí: Buộc ông T chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 110,116, 117, 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 144, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội, tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T.
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Trương Thị T2 (Trương Thị Hoài T2).
- Về con chung và trách nhiệm nuôi dưỡng:
Ông T và bà T2 có 02 con chung gồm: Nguyễn Thị Thanh T3, sinh ngày 10/11/1996 và Nguyễn Tấn T4, sinh ngày 16/5/2007. Đối với Nguyễn Thị Thanh T3 đã thành niên nên không giải quyết nuôi dưỡng.
- Giao cháu Nguyễn Tấn T4 cho bà T2 trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T4 mức 1.500.000 đồng/tháng, thời gian bắt đầu cấp dưỡng tính từ tháng 5/2024 cho đến khi cháu T4 đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Ông T và bà T2 đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Ông T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được quyền ngăn cản.
- Về án phí: Buộc ông Nguyễn Ngọc T chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về ly hôn và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về cấp dưỡng nuôi con để sung ngân sách nhà nước. Ông T được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007698 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. Ông T còn phải nộp 300.000 đồng án phí.
- Các vấn đề khác:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Hùng Hưng |
Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 16/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc Tuyển
