Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/DS-ST.

Ngày: 23-04-2024.

v/v: “Tranh chấp mở lối đi qua

Bất động sản liền kề”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Ân.

Ông Vũ Xuân Tuất.

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hà- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 đến 23 tháng 04 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử công khai vụ án thụ lý số 31/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2022 về “Tranh chấp mở lối đi qua bất động sản liền kề” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Chề Lỷ S, sinh năm 1954, địa chỉ: ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức M, sinh năm 1995, địa chỉ: B N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Chề A Ố, sinh năm 1950 và bà Thòng Lỷ M1, cùng địa chỉ ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1976, địa chỉ: A Bia T, phường T, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh và ông Chề A C, sinh năm 1974, địa chỉ: ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (ông L có mặt, ông C vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1945 là Luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố H. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Đặng Thị S1, sinh năm 1955, địa chỉ: ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Chề Minh H, sinh năm 1994, địa chỉ: ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Chề Minh B, sinh năm 1992, địa chỉ: ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn-ông Nguyễn Đức M trình bày:

Cha mẹ ông Chề Lỷ S là ông Chề L1 (mất năm 2015) và bà Vòng Pát M2 (mất năm 2010) khi còn sống có tạo lập được một khối tài sản chung là các thửa đất số 25, 56 tờ bản đồ số 20 tại địa chỉ xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Khi cha mẹ mất, các thửa đất trên được chia cho ông Chề Lỷ S và anh trai ruột Chề A Ố. Ông S được chia thửa đất số 25, ông Chề A Ố được chia cho thửa đất số 56. Sau khi được chia, đất của ai người đó sử dụng. Ông Chề Lỷ S đã sinh sống ổn định trên thửa đất số 25 tờ bản đồ địa chính số 20 xã S từ khoảng hơn 30 năm qua. Trên đất có xây nhà ở ổn định cùng vợ, các con. Hai thửa đất này khi cha mẹ ông S khai phá sau đó được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hai thửa riêng biệt, có lối đi hình thành từ khi cha mẹ ông S khai phá hai thửa đất này. Lối đi này đã được sử dụng từ khi cha mẹ ông S và ông Ổ khai phá đất (hơn 30 năm nay). Ngoài lối đi này thì không còn lối đi nào khác vào đất nhà ông S. Diện tích phần đường đi chung khoảng 334m² thuộc thửa đất số 56, tờ bản đồ số 20 do ông Chề A Ố đứng tên chủ sở hữu. Phần đường đi chung có tứ cận xác định như sau: Phía Bắc giáp thửa đất số 155, tờ bản đồ số 20 (đất ông Thoòng S2), phía Nam giáp thửa đất số 56, tờ bản đồ số 20 (đất ông Chề A Ố), phía Đông giáp thửa 25, tờ bản đồ số 20 (đất của Chề L), phía Tây giáp đường công cộng.

Tuy nhiên, thời gian gần đây không hiểu vì lý do gì mà gia đình ông Chề A Ổ liên tục gây khó khăn, không cho ông S2 sử dụng phần đường đi chung. Mặc dù đã nhiều lần nói chuyện để đưa ra hướng giải quyết và gia đình ông Ố cũng đã được Công an xã S đến yêu cầu ông Ổ không được cản trở việc đi lại của gia đình ông S2 trên lối đi chung này nhưng ông Chề A Ố vẫn không chịu và còn tiếp tục cản trở, thách thức gia đình ông S2.

Ông thống nhất với trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2 và chứng thư thẩm định giá số 167/2022/TĐG-CT ngày 07 tháng 12 năm 2022 của Công ty cổ phần T3.

Nay ông Chề Lỷ S yêu cầu ông Chề A Ố mở lối đi có diện tích khoảng 334m² (ba trăm ba mươi bốn mét vuông) thuộc thửa đất số 56, tờ bản đồ địa chính số 20 tại xã S huyện T được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 1) theo bản trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2. Vì lối đi này đã sử dụng hơn 30 năm nay, từ khi cha mẹ ông S và ông Ô khai phá thửa đất nên ông S không đồng ý bồi hoàn cho ông Chề A Ố và bà Thòng Lỷ M1.

Đối với phần đất diện tích 0.3m² được giới hạn bởi các mốc (11, 12, A) theo bản trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2 thì ông không có ý kiến, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn-ông Nguyễn Hoàng L trình bày:

Diện tích đất khoảng 334m² mà ông C1 Lỷ Sáng yêu cầu được mở lối đi hoàn toàn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình Chề A Ố. Cụ thể, lối đi này đi qua thửa đất số 17, tờ bản đồ 20, xã S đã được UBND huyện Thống Nhất Giấy chứng nhận QSDĐ số BA197806 do UBND huyện T cấp ngày 21/09/2010 và thửa số 14, tờ bản đồ số 20, xã S đã được UBND huyện T (nay là huyện T) cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số Q299493 ngày 13/04/2000.

Diện tích đất mà ông Chề Lỷ S yêu cầu mở lối đi có nguồn gốc là do ông C1 A Ổ khai phát từ những năm đầu Giải phóng, sau đó nhượng lại cho Chề L2 Sáng theo lời dạy của cha mẹ; không chỉ vậy, bản thân ông Ổ còn nhận phần đất xấu, nhiều sỏi đá, nhường cho Sáng phần đất màu mỡ dễ trồng trọt vì biết tính em nhát lao động. Ngoài ra, ông Chề A Ố còn hỗ trợ gia đình Sáng 3 chỉ vàng để đào giếng, rồi cho máy bơm nước để tưới tiêu (hồi ông S còn trồng cây cà-phê), có lần mang sổ đỏ thế chấp ngân hàng để có tiền chia sớt cho Sáng lúc gia đình S còn khó khăn do đang nuôi con. Khi ông S nhận đất canh tác, lúc đầu vì xung quanh toàn là đất rẫy, đất trồng cây lâu năm nên khi di chuyển tới lui để canh tác trên đất của mình, ông Chề Lỷ S đã đi nhờ trên đất của các hộ xung quanh như trên đất của gia đình ông Ô, ông Thòng S3

Đến khoảng năm 2019, khi Nhà nước làm đường nhựa giao thông đi ngang phía trước thửa đất của ông Ố. Gia đình ông S3 bắt đầu dùng lối đi nhờ trên đất của ông Chề A Ổ để ra đường nhựa. Lúc đầu, lối đi chỉ rộng khoảng 1 mét, với hướng đi cong quẹo, tự phát. Sau khoảng thời gian ngắn, thấy gia đình ông Ổ không nói gì, ông Chề Lỷ S đã tự ý chặt phá hàng loạt cọc tiêu của ông Ố để mở rộng lối đi, thậm chí còn xây cả con lươn để giữ đá lót đường, mà không hề bàn bạc, trao đổi lấy một tiếng; khi bị gia đình ông Ổ phản ứng, thì Sáng dở thói hung hăng, lớn tiếng thách thức “tao muốn lấy bao nhiêu thì lấy”. Không dừng lại, ông S còn làm đơn thưa kiện với những nội dung hoàn toàn sai sự thật và những yêu cầu phi lý nhằm chiếm hữu lối đi thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Chề A Ố. Rõ ràng, cách hành xử của Chề Lỷ Sáng vừa trái đạo đức xã hội vừa không phù hợp quy định của pháp luật. Bản chất vụ việc được thể hiện rất rõ trong nội dung Biên bản hòa giải ngày 14/01/2021 do Ủy ban Nhân dân xã S chủ trì; theo đó, cán bộ địa chính xã S đã xác định rõ: “Theo hệ thống dữ liệu bản đồ thì trước đây năm 1999 thì thửa đất số 56, 25 tờ bản đồ 20 không tiếp giáp đường giao thông (về phía Bắc). Đến năm 2019 khi Trung tâm đo đạc kỹ thuật địa chính về đo đạc tại khu vực thửa đất số 56, 25 cũng không thể hiện đường đi”. Thế nhưng ông S lại khai nại trong Đơn khởi kiện là con đường đã có hơn 30 năm qua. Đây là cơ sở xác định ngay từ đầu ông S đã cố tình cung cấp cho Tòa án thông tin, tài liệu không trung thực.

Ông Chề A Ố có yêu cầu phản tố yêu cầu tòa án giải quyết đối với nguyên đơn: Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, đồng ý cho ông C1 Lỷ Sáng sử dụng lối đi có diện tích 334m² được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 1) theo bản trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2. Ông Chề Lỷ S có trách nhiệm thanh toán giá trị 334m² cho ông Chề A Ố và bà Thòng Lỷ M1 theo giá đã được thể hiện tại chứng thư thẩm định giá số 167/2022/TĐG-CT ngày 07 tháng 12 năm 2022 của Công ty cổ phần T3 với giá trị là 334m² x 1.600.000 đồng = 534.400.000 đồng.

Ông thống nhất với trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2 và chứng thư thẩm định giá số 167/2022/TĐG-CT ngày 07 tháng 12 năm 2022 của Công ty cổ phần T3.

Đối với phần đất diện tích 0.3m² được giới hạn bởi các mốc (11, 12, A) theo bản trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2 thì ông không có ý kiến, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với diện tích 3.6m² được giới hạn bởi các mốc (5, 6, 7) theo bản trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2 là do nhầm lẫn trong việc chỉ ranh chất nên ông không có ý kiến, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan-bà Đặng Thị S1 trình bày:

Bà là vợ của ông Chề Lỷ S. Bà xác định thửa đất số 25, tờ bản đồ 20 xã S là tài sản chung của vợ chồng bà. Thửa đất này được cha mẹ chồng bà cho chung cả hai vợ chồng. Hiện nay, chỉ có bà, ông S và các con là Chề Minh B, Chề M ở trên đất. Còn những người con khác của bà thì đã có gia đình ở riêng, đang ở nước ngoài.

Hiện nay, ông bà chỉ đi con đường đang tranh chấp để đi vào nhà. Ngoài ra, không còn con đường nào khác. Con đường này thì ông bà đi từ khi cha mẹ chồng cho đất cho đến nay.

Bà thống nhất ý kiến với chồng bà là ông Chề Lỷ S, yêu cầu mở con đường đi qua đất của ông Chề A Ố, bà Thòng Lỷ M1 với diện tích 334m² thuộc thửa đất số 56, tờ bản đồ 20 xã S.

* Tại bản tự khai ngày 12/10/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan- ông Chề Minh B trình bày:

Ông là con ruột của ông Chề Lỷ S, hiện đang sử dụng con đường trong vụ án mở lối đi qua bất động sản liền kề với bị đơn là ông Chề A Ố thuộc thửa đất số 56, tờ bản đồ 20 xã S. Hiện giờ, ông đang ở chung với ông Chề Lỷ S, bà Đặng Thị S1. Ông thống nhất với yêu cầu mở lối đi của ông Chề Lỷ S để mở lối đi qua bất động sản liền kề thuộc thửa số 56 tờ bản đồ 20 xã S.

* Tại bản tự khai ngày 12/10/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan- ông Chề Minh H trình bày:

Ông là con ruột của ông Chề Lỷ S, hiện đang sử dụng con đường trong vụ án mở lối đi qua bất động sản liền kề với bị đơn là ông Chề A Ố thuộc thửa đất số 56, tờ bản đồ 20 xã S. Hiện giờ, ông đang ở chung với ông Chề Lỷ S, bà Đặng Thị S1. Ông thống nhất với yêu cầu mở lối đi của ông Chề Lỷ S để mở lối đi qua bất động sản liền kề thuộc thửa số 56 tờ bản đồ 20 xã S.

* Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom:

Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, việc thu thập chứng cứ thực hiện đúng theo quy định củaBộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Mở lối đi qua bất động sản liền kề diện tích 334m² thuộc thửa đất số 56 tờ bản đồ 20 xã S được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 1) theo bản trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2; đề nghị chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc nguyên đơn-ông Chề Lỷ S phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất mở làm lối đi cho ông Chề A Ố, bà Thòng L3 Mùi theo giá trị đã được thẩm định giá trong chứng thư thẩm định giá số 167/2022/TĐG-CT ngày 07 tháng 12 năm 2022 của Công ty cổ phần T3.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tại đơn khởi kiện, ông Chề Lỷ S yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề là quyền sử dụng đất của ông Chề A Ố, bà Thòng Lỷ M1 thuộc thửa đất số 56 tờ bản đồ 20 xã S. Do đó, quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp mở lối đi qua bất động sản liền kề” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền-ông C1 A Cẩm vắng mặt, tuy nhiên, bị đơn-ông Chề A Ố, bà Thòng Lỷ M1 đều có mặt nên sự vắng mặt của ông C không ảnh hưởng tới việc xét xử vụ án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan-bà Đặng Thị S1, ông Chề Minh H, ông Chề Minh B đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa đồng thời có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bà S1, ông H, ông B.

[3] Tại phiên tòa ngày 05/09/2023, nguyên đơn-ông Chề Lỷ S cho rằng giá trị quyền sử dụng đất theo chứng thư thẩm định giá số 167/2022/TĐG-CT ngày 07/12/2022 của Công ty cổ phần T3 không phù hợp với giá trị thực tế của quyền sử dụng đất nên có đơn yêu cầu Công ty cổ phần T4 thẩm định giá lại. Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là không cần thiết bởi vì trong quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn đã lựa chọn đơn vị thẩm định giá tài sản là Công ty cổ phần T3, sau khi có kết quả thẩm định giá thì các đương sự đều thống nhất giá trị theo chứng thư thẩm định giá số 167/2022/TĐG-CT, tại Văn bản số 173a/2023/TL-TĐG ngày 11/10/2023 và 173a/2024/TL-TĐG ngày 01/03/2024, Công ty cổ phần T3 xác định: “...nhận thấy chứng thư thẩm định giá số 167/2022/TĐG-CT ngày 07/12/2022 đã hết hiệu lực trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày phát hành. Tuy nhiên, mức giá trên vẫn phù hợp với thị trường tại thời điểm hiện nay và giá thị trường của bất động sản biến động không đáng kể.”

[4] Về nội dung vụ án:

[4.1] Ông Chề Lỷ S đang quản lý, sử dụng thửa đất số 25, tờ bản đồ 20 xã S và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY219468 ngày 27/11/2020. Thể hiện tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY219468 ngày 27/11/2020 thì thửa đất số 25, tờ bản đồ 20 xã Sông Trầu không tiếp giáp với đường giao thông. Ông Chề Lỷ S cũng không có ý kiến khiếu nại gì về trình tự, hồ sơ, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY219468 ngày 27/11/2020.

[4.2] Qua xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc đối với phần đất tranh chấp thì xác định thửa đất số 25, tờ bản đồ 20 xã S do ông Chề Lỷ S đang quản lý, sử dụng không có tiếp giáp với đường giao thông và phần đất đang tranh chấp diện tích 334m² được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 1) theo bản trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2 là lối đi duy nhất để vào thửa đất số 25, tờ bản đồ 20 xã S.

[4.3] Phía nguyên đơn xác định nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là con đường đi chung hình thành từ trước năm 1975, khi cha mẹ của ông Ô và ông S cho của ông Ố và ông S đất. Tuy nhiên, nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh cho ý kiến của mình theo quy định tại Điều 6, Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[4.4] Qua xác minh tại UBND xã S thì tại thửa đất số 56, tờ bản đồ 20 xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai không có con đường, lối đi nào. Do đó, không cung cấp được thông tin nguồn gốc và thời gian cải tạo con đường. Theo dữ liệu bản đồ địa chính xã S thì phần tiếp giáp với thửa 15 tờ bản đồ 20 xã S (bản đồ cũ) không có đường giao thông. Tại biên bản hòa giải tại UBND xã S, cán bộ địa chính xác định theo hệ thống dữ liệu bản đồ cũ trước đây năm 1999 thì thửa đất số 56, 25 tờ bản đồ 20 không tiếp giáp đường giao thông (về phía Bắc). Đến năm 2017, khi Trung tâm kỹ thuật địa chính về đo đạc tại khu vực thửa đất số 56, 25 cũng không thể hiện đường đi.

[4.5] Từ những căn cứ nêu trên, xác định việc nguyên đơn cho rằng phần đất đang tranh chấp diện tích 334m² được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 1) theo bản trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2 là con đường đi chung thì không có căn cứ chấp nhận.

[4.6] Tuy nhiên, xem xét tình hình thực tế sử dụng đất của ông C1 Lỷ Sáng đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ 20 xã S hiện nay không tiếp giáp đường đi, không có con đường đi nào khác vào đất ngoài phần đất đang tranh chấp nên căn cứ Điều 254 Bộ luật dân sự 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc mở lối đi qua bất động sản liền kề của nguyên đơn, mở lối đi qua thửa đất số 56, tờ bản đồ 20 xã S để đi vào thửa đất số số 25, tờ bản đồ 20 xã S. Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu mở lối đi có diện tích 334m² được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 1) theo bản trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2 thì có chiều dài, chiều rộng, vị trí phù hợp, đảm bảo thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho việc sử dụng thửa đất số 56, tờ bản đồ 20 xã S của ông Chề A Ố, bà Thòng Lỷ M1. Đồng thời, bị đơn cũng đồng ý mở lối đi như trên theo yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, có căn cứ chấp nhận mở lối đi diện tích 334m² được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 1) theo bản trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2 để đi từ đường giao thông công cộng vào thửa đất số 25, tờ bản đồ 20 xã S.

[4.7] Căn cứ khoản 1 Điều 254 bộ luật Dân sự 2015: “...Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sử dụng bất động sản chịu ảnh hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”, thì có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc nguyên đơn ông Chề Lỷ S có trách nhiệm đền bù cho ông C1 A Ổ và bà T1 Lỷ Mùi giá trị quyền sử dụng đất diện tích 334m² đã mở lối đi với giá trị theo chứng thư thẩm định giá số 167/2022/TĐG-CT ngày 07 tháng 12 năm 2022 của Công ty cổ phần T3 là 334m² x 1.600.000 đồng = 534.400.000 đồng.

[4.8] Đối với phần đất diện tích 0.3m² được giới hạn bởi các mốc (11, 12, A) theo bản trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2 là sự khác biệt giữa thựa tế sử dụng đất và tài liệu bản đồ địa chính, các đương sự không có ý kiến, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí:

Do nguyên đơn-ông Chề Lỷ S, bị đơn-ông Chề A Ố, bà Thòng Lỷ M1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan-bà Đặng Thị S1 đều thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí.

[6] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn- Chề Lỷ S phải chịu là 28.472.000 đồng chi phí, đo đạc, xem xét thẩm định tại chổ, thẩm định giá, xác minh thu thập tài liệu chứng cứ. Ông Chề Lỷ S đã nộp đủ.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 6, Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 245, 254 Bộ luật dân sự 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn-ông Chề Lỷ S đối với bị đơn-ông Chề A Ố, bà Thòng Lỷ M1 về việc “Mở lối đi qua bất động sản liền kề”.

Buộc bị đơn-ông Chề A Ố, bà Thòng Lỷ M1 mở cho nguyên đơn- ông Chề L2 Sáng một lối đi có diện tích 334m² (ba trăm ba mươi bốn mét vuông) thuộc một phần thửa đất số 56, tờ bản đồ 20 xã S được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 1) theo bản trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-chi nhánh T2 để đi từ thửa đất số 25, tờ bản đồ 20 xã S ra đường giao thông công cộng.

- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn-ông Chề A Ố, bà Thòng Lỷ M1 đối với nguyên đơn-ông Chề Lỷ S về việc đền bù giá trị quyền sử dụng đất đã mở lối đi.

Buộc nguyên đơn- ông Chề Lỷ S phải đền bù cho bị đơn-ông Chề A Ố, bà Thòng L3 Mùi số tiền giá trị quyền sử dụng đất đã mở lối đi là 534.400.000 (năm trăm ba mươi tư triệu bốn trăm ngàn) đồng.

Các đương sự có quyền liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Do nguyên đơn-ông Chề Lỷ S, bị đơn-ông Chề A Ố, bà Thòng Lỷ M1 đều thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí.

3. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn- Chề Lỷ S phải chịu là 28.472.000 đồng chi phí, đo đạc, xem xét thẩm định tại chổ, thẩm định giá, các minh thu thập tài liệu chứng cứ. Ông Chề Lỷ S đã nộp đủ.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

- Đương sự;

- Cơ quan, tổ chức khởi kiện (nếu có);

- Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;

- Cơ quan thi hành án cùng cấp;

- Lưu hồ sơ tại Tòa án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Ngọc Nam

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn ÂnVũ Xuân TuấtĐào Ngọc Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/DS-ST ngày 23/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai về tranh chấp mở lối đi qua bất động sản liền kề

  • Số bản án: 16/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp mở lối đi qua Bất động sản liền kề
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nay ông Chề Lỷ Sáng yêu cầu ông Chề A Ốn mở lối đi có diện tích khoảng 334m2 (ba trăm ba mươi bốn mét vuông) thuộc thửa đất số 56, tờ bản đồ địa chính số 20 tại xã Sông Trầu huyện Trảng Bom được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 1) theo bản trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai-chi nhánh Trảng Bom. Vì lối đi này đã sử dụng hơn 30 năm nay, từ khi cha mẹ ông Sáng và ông Ôn khai phá thửa đất nên ông Sáng không đồng ý bồi hoàn cho ông Chề A Ốn và bà Thòng Lỷ Mùi. Đối với phần đất diện tích 0.3m2 được giới hạn bởi các mốc (11, 12, A) theo bản trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 5141/2023 ngày 16/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai-chi nhánh Trảng Bom thì ông không có ý kiến, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger