Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày 15 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Bà Vũ Thị Thu.
  • - Ông Vừ A Chứ.
  • - Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La, tỉnh Sơn La.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên toà:Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lò Văn C, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Bản M, xã T, tỉnh Sơn La.

Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam T:

  • - Bị cáo: Lò Văn T. Có mặt.
  • - Cán bộ chiến sỹ Phân trại tạm giam T: Ông Lò Văn Q và ông Sồng A D.

Ngày 15 tháng 12 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Toà án nhân khu vực 2 - Sơn La và tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam T, xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 02 năm 1996 tại: xã T, tỉnh Sơn La.

Nơi cư trú: Bản M, xã T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn C và bà Lò Thị T1; Bị cáo có vợ và 01 con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01. Ngày 24/12/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 22 (Hai mươi hai) tháng. Ngày 24/10/2023 bị cáo chấp hành xong. Đến thời điểm phạm tội mới chưa được coi là hết thời hạn bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 29/5/2025, tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh S làm nhiệm vụ tại khu vực Tiểu khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sơn La (nay là Tiểu khu D, xã T, tỉnh Sơn La) phát hiện bắt quả tang Lò Văn T, sinh năm 1996, trú tại bản Mòn, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La (nay là bản M, xã T, tỉnh Sơn La) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Qua kiểm tra Lò Văn T giao nộp 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là Heroine và 01 viên nén màu hồng hình trụ tròn, ký hiệu WY nghi là ma túy tổng hợp. 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung A10, màu xanh - đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng cũ và 02 sim điện thoại số: 0328.607.xxx; 0866477627. 01 chiếc xe mô tô (xe máy), BKS: 26B1 - 479.33, nhãn hiệu: Yamaha, loại Taurus, sơn màu đen; số khung: RLCS16S109Y022099; số máy: 16S1 - 022100, đã qua sử dụng cũ. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Ngày 29/5/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng số ma túy thu giữ được của Lò Văn T gồm: 01 (Một) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp (có chữ: WY) xác định được khối lượng 0,10 g (Không phẩy mười gam), ký hiệu T1 gửi giám định; Cân tịnh chất bột cục màu trắng nghi là Heroine, xác định được khối lượng 0,39 g (Không phẩy ba mươi chín gam), trích: 0,09 g ký hiệu T2 gửi giám định chất ma túy, loại ma túy. Còn lại 0,30 g (Không phẩy ba mươi gam), ký hiệu T3 nhập kho vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số: 624/KL-KTHS ngày 04/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu T2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D1; khối lượng của mẫu gửi giám định là: 0,09 gam. Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam.

Tổng khối lượng chất ma túy mà Lò Văn T tàng trữ trái phép là: 0,49 g (Không phẩy bốn mươi chín gam) loại Heroine và loại Methamphetamine (Trong đó: loại Heroine, khối lượng: 0,39 gam và loại Methamphetamine, khối lượng: 0,10 gam).

Tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S, và tại phiên tòa Lò Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:

Khoảng 11 giờ 45 ngày 29/5/2025, Lò Văn T nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Lò Văn C1 (tài khoản Messenger của C1 là Chung T2), sinh năm: 2001, trú tại: Bản M, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La (nay là: Bản Mòn, xã T, tỉnh Sơn La). T hỏi C1 có tiền không thì góp tiền mua ma túy để sử dụng, C1 đồng ý góp số tiền 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng). Tỉnh hẹn C1 ra đầu B, xã T, tỉnh Sơn La để lấy tiền. Gặp nhau, C1 đưa cho T số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, có Lường Thái H1 (sinh năm: 1998), trú tại: Bản N, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La (nay là: Bản N, xã T, tỉnh Sơn La) nhắn tin qua ứng dụng M (H1 sử dụng tài khoản Messenger có tên “Thái Học”) cho Lò Văn T hỏi T có mua được ma túy không thì cho H1 góp tiền mua ma túy với, T đồng ý, nhưng H1 bảo không có tiền mặt và xin số tài khoản ngân hàng để chuyển khoản cho T. T đã ra Quán tạp hóa của Lò Văn T3 ở đầu Bản để chụp mã QR tài khoản ngân hàng của T3 gửi qua Messenger cho H1. Sau đó, H1 chuyển khoản số tiền 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) vào tài khoản ngân hàng của T3. Khi nhận được tiền, T3 lấy tiền công chuyển khoản 10.000 đ (Mười nghìn đồng), rồi đưa cho T số tiền 190.000 đ (Một trăm chín mươi nghìn đồng). Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, T tự ý bớt 90.000 đ (Chín mươi nghìn đồng) để mua xăng không nói cho H1 biết, còn 100.000 đồng của H1 dùng để đi mua ma túy, rồi T điều khiển chiếc xe máy, BKS 26B1 - 497.33, nhãn hiệu YAMAHA TAURUS từ nhà lên C thuộc thị trấn T, tỉnh Sơn La (nay là: Công viên xã T, tỉnh Sơn La). Đến nơi, T gọi cho một người đàn ông quen từ trước (tháng 4/2025) tên là D2 (có số điện thoại: 0569.060.xxx, Tỉnh lưu tên là: MU) để hỏi mua một lượng ma túy gồm hồng phiến và H với số tiền 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). D2 đồng ý, bảo T đợi một lúc, rồi hẹn ra khu vực biển báo chữ P cạnh Sân vận động huyện T, tỉnh Sơn La (nay thuộc Tiểu khu D, xã T, tỉnh Sơn La). Một lúc sau, D2 gọi cho T đến lấy hàng, D2 để ma túy trong 01 bao thuốc lá Thăng Long, màu vàng (bên trong có 01 điếu thuốc). Sau khi ra điểm nhận ma túy, T mở bao thuốc ra lấy 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng là hồng phiến và một ít cục bột màu trắng là H, rồi T cho số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) vào bên trong bao thuốc lá T4 đưa D2. Mua được ma túy xong, Lò Văn T điều khiển xe máy đi về nhà. Trên đường về, T bị Tổ công tác Công an tỉnh S yêu cầu kiểm tra ma túy, phát hiện và thu giữ tang vật. Sau đó, Tổ công tác áp giải Lò Văn T đến Trụ sở UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Sơn La (nay là: UBND xã T, tỉnh Sơn La) lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang như đã nêu trên.

Quá trình điều tra bị cáo Lò Văn T còn khai nhận:

Khoảng 10 giờ ngày 26/5/2025, Lò Văn T đi bộ một mình ra khu vực sân vận động T thì gặp D2 đứng chơi ở đó. T đến gặp và hỏi mua ma túy rồi đưa cho D2 số tiền 200.000 đồng, D2 nhận tiền và bảo T đợi. Khoảng 10 phút sau, D2 quay lại bảo T ra khu vực biển báo chữ P ở sân vận động T4. T đi ra khu vực biển báo chữ P như D2 nói thì thấy một bao thuốc lá T. T cầm lên mở ra lấy

được 01 gói nilon chứa 01 viên hồng phiến và H. Tỉnh cầm gói ma túy đi đến khu vực đường vắng của Bản M, T mở gói ma túy ra nghiền viên hồng phiến trộn lẫn với một ít heroine, rồi sử dụng bằng hình thức đốt hít hết toàn bộ số ma túy trên rồi đi về nhà.

Quá trình điều tra, xác minh, Công an tỉnh S đã tiến hành bóc mở niêm phong và kiểm tra thông tin trong điện thoại của Lò Văn T. Kết quả:

Có 04 cuộc gọi với số thuê bao 0569.060.983 trong ngày 29/5/2025, lưu danh bạ là “Mu” (Lò Văn T khai nhận là số điện thoại của D2 đã bán ma túy cho T vào ngày 29/5/2025).

Có 04 cuộc gọi với số thuê bao 0948.167.814 trong ngày 29/5/2025, lưu danh bạ là “Chung Tiếp” và 01 đoạn tin nhắn của Lò Văn T với tài khoản “Chung Tiếp” (Lò Văn T khai nhận là số điện thoại và tài khoản của Lò Văn C1 đã đưa cho T số tiền 200.000 đồng mua ma túy vào ngày 29/5/2025).

Có 01 đoạn tin nhắn của Lò Văn T với tài khoản “Thái Học” (Lò Văn T khai nhận là số điện thoại và tài khoản của Lường Thái Học sinh năm 1998, trú tại: Tiểu khu N, xã T, tỉnh Sơn La đã chuyển tiền cho T số tiền 200.000 đồng mua ma túy vào ngày 29/5/2025).

Đối với Lò Văn C1, Lường Thái H1 theo lời khai của bị cáo Lò Văn T thì C1 góp số tiền 200.000 đồng, H1 góp số tiền 100.000 đồng để mua ma túy để cùng nhau sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S đã tiến hành xác minh công dân trên địa bàn, kết quả xác minh được: Lò Văn C1 (sinh năm: 2001), trú tại: Bản M, xã T, tỉnh Sơn La và Lường Thái H1 (sinh năm: 1998), trú tại: Tiểu khu N, xã T, tỉnh Sơn La phù hợp với lời khai của bị cáo Lò Văn T. Quá trình điều tra xác định đối tượng C1, H1 đã bỏ trốn, không có mặt tại nơi cư trú, gia đình và chính quyền địa phương không biết H1, C1 đi đâu, làm gì.

Đối với hành vi bị cáo Lò Văn T sử dụng trái phép chất ma túy ngày 26/5/2025. Đến ngày 29/5/2025, bị cáo T bị bắt quả tang, về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại Phiếu xét nghiệm ma túy, Thông báo kết quả xét nghiệm ma túy trong nước tiểu (ngày 29/5/2025) đối với bị cáo T: “Dương tính với chất ma túy”. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo T đã vi phạm quy định tại Khoản 1 - Điều 23 - Mục 2 Nghị định số: 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Phòng PC04 Công an tỉnh S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với Lò Văn T, mức phạt 1.500.000₫.

Đối với hành vi điều khiển xe máy tham gia giao thông mà trong cơ thể có chất ma túy của bị cáo đã vi phạm điểm e, khoản 9, Điều 7 Nghị định 168/NĐ-CP ngày 26/12/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ, trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe. Ngày 24/10/2025, Cơ quan điều tra có Công văn số: 4587/CSMT đề nghị Phòng C2 Công an tỉnh S ra quyết định xử phạt vi phạm

hành chính đối với Lò Văn T. Do vậy, Phòng C2 Công an tỉnh S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 0005746/QĐ - XPHC ngày 24/10/2025 (phạt tiền) đối với Lò Văn T.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKS-KV2 ngày 11/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La, truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La để xét xử bị cáo Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, thống nhất với lời khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 26 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan không còn giá trị sử dụng và số ma túy còn lại bao gồm: 01 phong bì công văn Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh S bên trong chứa 0,30g ma túy đựng trong 01 túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu xanh.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung A10, màu xanh – đen, màn hình cảm ứng, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 02 sim điện thoại số: 0328.607.xxx; 0866477627.

Trả lại cho chủ sở hữu ông Lò Văn C 01 chiếc xe moto, BKS: 26B1-479.33, nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, sơn màu đen, xe cũ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với Bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lò Văn C đề nghị được xin lại chiếc xe máy thuộc quyền sở hữu, đồng thời không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

[2] Về tình tiết định tội:

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 29/5/2025, phiếu xét nghiệm ma túy ngày 29/5/2025, biên bản niêm phong vật chứng ngày 29/5/2025, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 29/5/2025, Kết luận giám định số: 624/KL-KTHS ngày 04/6/2025, các biên bản ghi lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, biên bản lấy lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và đều phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 29/05/2025 tại Tiểu khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sơn La( Nay là tiểu khu D, xã T, tỉnh Sơn La), bị cáo Lò Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, trọng lượng 0,49g, loại chất Heroine và Methamphetamin với mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện trước 00 giờ ngày 01/7/2025, trước khi Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự có hiệu lực pháp luật. Thời điểm đưa bị cáo ra xét xử, Văn phòng Quốc hội đã có văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH ngày 05/9/2025 hợp nhất Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024, Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự thành bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025, trong đó sửa đổi Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau: “Người nào Tàng trữ trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm”, xét thấy bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định không có lợi cho bị cáo, vì vậy để đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho bị cáo về điều luật áp dụng cần áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015, các quy định tương ứng của các văn bản

quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 00 giờ ngày 01/7/2025 để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), có mức phạt tù từ 01 đến 05 năm.

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử bị cáo Lò Văn T là chính xác, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm mà bị cáo đã thực hiện.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng sức khỏe con người, suy kiệt nòi giống đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.. Bị cáo có đủ nhận thức hiểu được tác hại của ma túy. Song để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm. Ngoài mục đích tàng trữ để sử dụng bị cáo không có mục đích khác.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Không có tiền án.

Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 24/12/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày 24/12/2021. Ngày 24/10/2023 bị cáo chấp hành xong. Đến thời điểm phạm tội mới chưa được coi là xóa tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Bị cáo là đối tượng nghiện hút lâu năm, đã được đưa đi cai nghiện bắt buộc 01 lần, nhưng sau khi chấp hành quyết định cai nghiện bắt buộc quay trở lại địa phương làm ăn, sinh sống không ăn năn hối cải, tu chí làm ăn, tránh xa ma túy, lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn có hành vi vi phạm pháp luật. Thể hiện việc thiếu sự rèn luyện, tu dưỡng, hối cải của bị cáo.

Do vậy cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ, ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo để có mức án phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội, nhằm cải tạo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội,

giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương.

[5] Về hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị lớn, hoàn cảnh gia đình khó khăn vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng:

Đối với 01 phong bì công văn của Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh S bên trong chứa: 0,30g ma túy loại Heroine đựng trong 01 túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu xanh. Là các vật chứng liên quan không có giá trị sử dụng và vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với vật chứng 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung A10, màu xanh – đen, màn hình cảm ứng, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 02 sim điện thoại số: 0328.607.xxx; 0866477627 là phương tiện, công cụ phạm tội còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trả lại cho chủ sở hữu ông Lò Văn C 01 chiếc xe moto, BKS: 26B1-479.33, nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, sơn màu đen, xe cũ.

[7] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối với người đàn ông tên D2 bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người bán ma túy, nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với Lò Văn T3 chủ cửa hàng T5: bản M, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La (nay là bản M, xã T, tỉnh Sơn La) là người được T nhờ để H1 chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng của T3, và T3 lấy phí chuyển tiền 10.000đ, do T3 không biết việc H1 chuyển tiền cho T để góp mua ma túy về sử dụng nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với T3 là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với Lò Văn C1, Lường Thái H1 là những người góp tiền để T đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng (C1 góp 200.000đ, H1 góp 100.000đ, T chỉ góp công đi mua), sau khi Cơ quan điều tra xác minh, H1 và C1 đã bỏ trốn khỏi địa phương, không có mặt tại nơi cư trú. Đến ngày 24/10/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm người số: D541, D542/QĐ - CSMT và Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số: D543/QĐ - CSMT đối với Lò Văn C1, Lường T và sẽ tiếp tục điều tra, xác minh, có hình thức xử lý sau.

Xét thấy đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lò Văn T thực hiện trước 00 giờ ngày 01/7/2025, trước khi Luật số 86/2025/QH13 sửa đổi, bổ

sung một số điều của Bộ luật hình sự có hiệu lực pháp luật, do vậy vậy Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xem xét xử lý hình sự đối với bị cáo Lò Văn T theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự là đảm bảo quy định. Do đó Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1, Điều 23, Mục 2 (Vi phạm hành chính về phòng, chống tệ nạn xã hội) Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ đối với Lò Văn T bằng hình thức phạt tiền của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S là có căn cứ, đúng pháp luật.

[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lò Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan theo quy định của Điều 331, Điều 333 BLTTHS.

[10] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về Điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T (Tên gọi khác: Không) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 29/05/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2.Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan không còn giá trị sử dụng và số ma túy còn lại bao gồm: 01 phong bì công văn Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh S bên trong chứa 0,30g ma túy loại Heroine đựng trong 01 túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu xanh.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung A10, màu xanh – đen, màn hình cảm ứng, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 02 sim điện thoại số: 0328.607.xxx; 0866477627.

Trả lại cho chủ sở hữu ông Lò Văn C 01 chiếc xe moto, BKS: 26B1-479.33, nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, sơn màu đen, xe cũ.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKS-KV2 ngày 03/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La và Biên bản giao nhận vật chứng số 13 ngày 07/11/2025 giữa Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Sơn La).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 15/12/2025.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 2 - Sơn La;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Sơn La;
  • - Trại tạm giam;
  • - THA hình sự;
  • - Phòng THA Dân sự khu vực 2 – Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cầm Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger