trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST

Ngày 12/12/2025.

"V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Hà.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đăng Đán và ông Vũ Xuân Nghĩa.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Cường - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Đỗ Tá Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 12/12/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2025/TLST-HNGĐ, ngày 10/11/2025 về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-DS, ngày 23/11/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976 (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Trần Văn G, sinh năm 1974 (vắng mặt).

Đều nơi cư trú: Thôn Q, xã L, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H và bị đơn là ông Trần Văn G đều thống nhất trình bày:

Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Thị H kết hôn với ông Trần Văn G vào ngày 02/11/1995. Trước khi cưới đôi bên có được tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Bắc Ninh). Sau cưới theo phong tục tập quán của địa phương, bà H về chung sống cùng anh G ngay. Vợ chồng có thời gian chung sống hòa thuận, hạnh phúc.

Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2018, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm nên vợ chồng vẫn thường xuyên xảy ra việc đánh cãi chửi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng tôi trầm trọng nhất từ đầu năm 2025, nguyên nhân cũng là do bất đồng quan điểm nên vợ chồng lại tiếp tục xảy ra việc đánh cãi chửi nhau. Do chán nản nên bà H đã về nhà đẻ ở và từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của vợ chồng do bảo quản không tốt nên hiện không còn nữa. Ông bà đã ra UBND xã L xin cấp lại Trích lục kết hôn, nhưng UBND xã L thông báo cho biết là sổ theo dõi kết hôn năm 1995 không còn lưu trữ.

Nay ông G và bà H đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ nên bà H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, ông G đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông Trần Văn G và bà Nguyễn Thị H đều xác định vợ chồng có 04 con chung là: Trần Thị L, sinh ngày 19/12/1998, Trần Kiều O, sinh ngày 28/8/2003, Trần Mai P, sinh ngày 13/8/2005 và cháu Trần Huy H1, sinh ngày 04/01/2009. Hiện nay 03 cháu là L, O và P khỏe mạnh và đã trưởng thành nên ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ly hôn, ông G và bà H thỏa thuận: Ly hôn ông G là người trực tiếp nuôi cháu H1, cấp dưỡng nuôi con ông bà tự giải quyết mà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức và ruộng đất nông nghiệp: Ông G và bà H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán; Hội đồng xét xử và thư ký phiên toà đã tuân theo đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý, xây dựng hồ sơ vụ án, tổ chức hòa giải và điều hành phiên tòa.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi vụ án thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn và bị đơn đều chấp hành đúng các quy định tại các Điều 70,71,72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Những yêu cầu, kiến nghị cần khắc phục vi phạm về tố tụng: Không.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích đánh giá Đại diện VKS đề nghị HĐXX: Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; các Điều 9, 14, 15, 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  • + Về quan về hệ hôn nhân: Tuyên bố bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn G không phải là vợ chồng.
  • + Về con chung: Giao cháu Trần Huy H1, sinh ngày 04/01/2009 cho ông G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Bà H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cấp dưỡng nuôi con không giải quyết.
  • + Về tài sản chung, nợ chung, công sức và ruộng đất nông nghiệp: Không giải quyết.
  • + Về án phí: Buộc bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Trần Văn G thì thấy: Ông G có nơi cư trú: Thôn Q, xã L, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy, vụ án trên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh được quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa hôm nay mặc dù ông G vắng mặt. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án ông G đã trình bày đầy đủ quan điểm về việc giải quyết vụ án. Ông G được Tòa án đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật; ông G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, quyền và nghĩa vụ của ông G đã được đảm bảo nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án trên là phù hợp với khoản 1 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Theo ông Trần Văn G và bà Nguyễn Thị H trình bày: Ông bà kết hôn cùng nhau vào ngày 02/11/1995. Trước khi đăng ký kết hôn, đôi bên có được tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh). Tuy nhiên ông bà không cung cấp được Giấy chứng nhận kết hôn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa đã ra Quyết định cung cấp chứng cứ đối với UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh về việc yêu cầu UBND xã L cung cấp Trích lục kết hôn của ông G và bà H. Tại Công văn số: 635/CV-UBND, ngày 19/11/2025 của UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh phúc đáp và xác định tàng thư hộ tịch ký kết hôn năm 1995 không còn lưu trữ được.

Quá trình chung sống của vợ chồng ông G và bà H thì thấy: Ông G và bà H đều xác định từ năm 2018 đến tháng 02/2025 vợ chồng ông bà đã nhiều lần xảy ra việc đánh cãi chửi nhau do bất đồng quan điểm sống và từ tháng 02/2025 đến nay vợ chồng sống ly thân chấm dứt quan hệ. Nay bà H và ông Q đều xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ nên bà H xin ly hôn, ông G đồng ý ly hôn. Xét thấy do không có cơ sở xác định ông G và bà H có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa ông G và bà H là không hợp pháp và tuyên bố ông G và bà H không phải là vợ chồng là phù hợp các Điều 9, 14, 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Xác định bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn G có 04 con chung gồm: Cháu Trần Thị L, sinh ngày 19/12/1998, Trần Kiều O, sinh ngày 28/8/2003, Trần Mai P, sinh ngày 13/8/2005 và Trần Huy H1, sinh ngày 04/01/2009. Xác nhận cháu L, O và P đã trưởng thành và đều khỏe mạnh bình thường nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Đối với cháu Trần Huy H1, sinh ngày 04/01/2009 chưa đủ 18 tuổi; xét thấy, quá trình giải quyết vụ án ông G và bà H đều thỏa thuận sau khi ly hôn ông G là người trực tiếp nuôi cháu H1 và cấp dưỡng nuôi con ông bà tự giải quyết. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay ông Giáp mặt, nhưng tại phiên tòa bà H vẫn nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quan điểm về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con như ông G và bà H đã thỏa thuận. Mặt khác từ khi vợ chồng ông G bà H ly thân thì cháu H1 vẫn do ông G trực tiếp nuôi dưỡng, cháu vẫn được ông G chăm sóc nuôi dưỡng chu đoán, cháu vẫn phát triển bình thường và cháu cũng có nguyện vọng được ở với ông G. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu H1 cho ông G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và do ông G và bà H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết là phù hợp các Điều 15, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung, công sức và ruộng đất nông nghiệp: Do bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn G đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn trong vụ án nên bà H phải chịu tiền án ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; các Điều 9, 14, 15, 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan về hệ hôn nhân: Tuyên bố bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn G không phải là vợ chồng.
  2. Về con chung: Giao cháu Trần Huy H1, sinh ngày 04/01/2009 cho ông Trần Văn G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Bà Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cấp dưỡng nuôi con không giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức và ruộng đất nông nghiệp: Không giải quyết.
  4. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà H đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 - Bắc Ninh theo biên lai số: 0003223, ngày 10/11/2025. Xác nhận bà H đã nộp đủ 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Khu vực 9-Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS Khu vực 9-Bắc Ninh;
  • - UBND xã Lâm Thao,tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Xuân Hà

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Hoàng Đăng ĐánVũ Xuân Nghĩa

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Xuân Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hiền Giáp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger