|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/DS-ST Ngày: 23 - 6 - 2025 “V/v: Tranh chấp HĐTD” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hồng.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trực và bà Bùi Lê Phương Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Linh, Thư ký Toà án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phương Hồng, Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thuận Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 295/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ: Số B đường P, phường N, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: Số E đường H, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, quận T, thành phố H);
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Quang L, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Ngọc H, chức vụ: Phó giám đốc phụ trách Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh H1 (Theo giấy ủy quyền số 128/GUQ-SGB ngày 27/5/2024);
- Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Lê Văn V, chức vụ: Nhân viên Ngân hàng TMCP S (S1) – Chi nhánh H1 và ông Ngô Tiến T, chức vụ: Nhân viên Ngân hàng TMCP S (S1) – Chi nhánh H1 (Theo giấy ủy quyền số 18/GUQ-SGB-CN HUE ngày 05/9/2024); đều có mặt.
-
Bị đơn: Ông Hồ Đình C, sinh năm 1977 và bà Trần Thị Thanh T1, sinh năm 1977; cùng địa chỉ: Căn hộ B T, T, phường X, quận T, thành phố H; đều có mặt.
-
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Ngọc T2, sinh năm 1974 Địa chỉ: Số A L, phường P, quận T, thành phố H. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, phía nguyên đơn trình bày:
Ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 có ký kết các hợp đồng tín dụng tại Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh H1 với tổng số tiền vay là: 4.500.000.000 đồng (Bốn tỷ năm trăm triệu đồng), cụ thể như sau:
- Hợp đồng tín dụng số 92/2017/HĐTD-NH-CN ngày 09/3/2017, vay số tiền 4.200.000.000 đồng (Bốn tỷ hai trăm triệu đồng chẵn), thời hạn vay 12 tháng; kể từ ngày 09/3/2017 đến ngày 09/3/2018; lãi suất cho vay: 11%/năm, lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần, phạt chậm trả đối với nợ gốc quá hạn: bằng 150% lãi suất ghi tại khoản 3.1 Điều 3 của hợp đồng này, phạt chậm trả đối phần nợ lãi vốn vay: chậm trả từ 01 ngày đến 30 ngày: mức phạt 02% tính trên số lãi vốn vay chậm trả, chậm trả trên 30 ngày: mức phạt 05% tính trên số lãi vốn vay chậm trả.
- Hợp đồng tín dụng số 97/2017/HĐTD-NH-CN ngày 10/3/2017, vay số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng chẵn), thời hạn vay 12 tháng, từ ngày 10/3/2017 đến ngày 10/3/2018; lãi suất cho vay: 11%/năm, lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần, phạt chậm trả đối với nợ gốc quá hạn: bằng 150% lãi suất ghi tại khoản 3.1 Điều 3 của hợp đồng này, phạt chậm trả đối phần nợ lãi vốn vay: chậm trả từ 01 ngày đến 30 ngày: mức phạt 02% tính trên số lãi vốn vay chậm trả, chậm trả trên 30 ngày: mức phạt 05% tính trên số lãi vốn vay chậm trả. Mục đích vay là để bổ sung vốn kinh doanh.
Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông Trần Ngọc T2 đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số B6, tờ bản đồ ..., diện tích đất 396m² tại địa chỉ: phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường T, thị xã H, Thành phố H) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 441132 do UBND thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 10/3/2016, đứng tên ông Trần Ngọc T2 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ của bên thứ ba số: 32/HĐBD-2016 ngày 14/3/2016, được lập và công chứng tại Phòng C2, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ngân hàng TMCP S đã giải ngân đủ số tiền 4.500.000.000 đồng cho ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 thông qua các giấy nhận nợ số 01/2017/GNN-CN ngày 09/3/2017 và giấy nhận nợ số 01/2017/GNN-CN ngày 10/3/2017.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 chỉ thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền lãi trong hạn của 02 hợp đồng trên là 400.033.333 đồng (Bốn trăm triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng), chưa thanh toán nợ gốc. Kể từ tháng 01/2018 cho đến nay ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 không tiếp tục thanh toán nợ cho Ngân hàng theo như thỏa thuận đã ký kết. Do đó, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản vay của ông C, bà T1 sang nợ quá hạn. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ làm việc cũng như thông báo nợ quá hạn nhưng ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Tính đến ngày 23/6/2025 ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 còn nợ Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là 10.597.294.919 đồng (Mười tỷ, năm trăm chín mươi bảy triệu, hai trăm chín mươi bốn nghìn, chín trăm mười chín đồng) (Trong đó: nợ gốc là 4.500.000.000 đồng, lãi trong hạn là 122.958.335 đồng; lãi phạt quá hạn là 5.960.562.500 đồng và phạt chậm thanh toán lãi là 13.774.084 đồng); cụ thể như sau:
- Hợp đồng tín dụng số 92/2017/HĐTD-NH-CN ngày 09/3/2017: Nợ gốc: 4.200.000.000 đồng; lãi trong hạn là 116.083.333 đồng; lãi phạt quá hạn là 5.594.400.000 đồng và phạt chậm thanh toán lãi là 12.898.667 đồng.
- Hợp đồng tín dụng số 97/2017/HĐTD-NH-CN ngày 10/3/2017, vay số tiền 300.000.000 đồng; lãi trong hạn là 6.875.002 đồng; lãi phạt quá hạn là 366.162.500 đồng và phạt chậm thanh toán lãi là 875.417 đồng.
Do ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng nên Ngân hàng TMCP S (S1) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền nêu trên và tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận quy định tại các hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ đã ký kể từ ngày 24/6/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trong trường hợp ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP S có quyền đề nghị cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp đảm bảo của ông Trần Ngọc T2 là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số B6, tờ bản đồ ..., diện tích đất 396m² tại địa chỉ: phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường T, thị xã H, Thành phố H) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 441132 do UBND thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 10/3/2016, đứng tên ông Trần Ngọc T2 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ của bên thứ ba số: 32/HĐBĐ–2016 ngày 14/3/2016, được lập và công chứng tại Phòng C2, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Trường hợp sau khi bán tài sản bảo đảm mà không đủ thanh toán số tiền vốn gốc nợ vay, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, chi phí Tòa án, chi phí phát mãi tài sản thì ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu cho đến khi hết nợ.
- Bị đơn - Ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 trình bày: Ông C và bà T1 thừa nhận có ký kết với Ngân hàng TMCP S các hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ cụ thể như sau:
- Hợp đồng tín dụng số 92/2017/HĐTD-NH-CN ngày 09/3/2017, vay số tiền 4.200.000.000 đồng (Bốn tỷ hai trăm triệu đồng chẵn). Ông C và bà T1 đã nhận đủ số tiền vay theo giấy nhận nợ số 01/2017/GNN-CN ngày 09/3/2017.
- Hợp đồng tín dụng số 97/2017/HĐTD-NH-CN ngày 10/3/2017, số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng chẵn). Ông C và bà T1 đã nhận đủ số tiền vay theo giấy nhận nợ số 01/2017/GNN-CN ngày 10/3/2017.
Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho các khoản vay nêu trên của ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1, ông Trần Ngọc T2 đã ký kết với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ bên thứ ba số: 32/HĐBĐ-2016 ngày 14/3/2016. Tài sản đảm bảo là: quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số B6, tờ bản đồ ..., diện tích đất 396m² tại địa chỉ: phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường T, thị xã H, Thành phố H) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 441132 do UBND thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 10/3/2016, đứng tên ông Trần Ngọc T2.
Tuy nhiên, kể từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ là tháng 12/2017 cho đến tháng 6/2024 Ngân hàng mới khởi kiện là đã hơn 06 năm. Việc Ngân hàng để một thời gian dài mới khởi kiện khiến cho số tiền lãi phát sinh quá lớn, điều này ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cũng như quyền lợi của ông C, bà T1. Do đó, ngày 02/4/2025 cũng như tại phiên toà, bị đơn là ông Hồ Đình C, bà Trần Thị Thanh T1 yêu cầu Toà án áp dụng thời hiệu khởi kiện về hợp đồng theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự, đề nghị không chấp nhận đối với yêu cầu trả lãi của Ngân hàng TMCP S. Đối với yêu cầu trả nợ gốc với tổng số tiền 4.500.000.000 đồng thì ông C, bà T1 không có ý kiến gì.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Ngọc T2 cũng thống nhất như lời khai của bị đơn về việc ký kết các hợp đồng tín dụng và số tiền vay. Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho các khoản vay nêu trên của ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1, ông Trần Ngọc T2 đã ký kết với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ của bên thứ ba số 32/HĐBĐ - 2016 ngày 14/03/2016. Tài sản đảm bảo là: Quyền sử dụng đất) tại thửa đất số B6, tờ bản đồ số ./., diện tích đất 396m² (tại địa chỉ Phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường T, thị xã H, Thành phố H) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 441132 do UBND thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 10/3/2016, đứng tên ông Trần Ngọc T2.
Trường hợp ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại các tài sản đảm bảo của ông Trần Ngọc T2 theo Hợp đồng thế chấp nêu trên để thanh toán nợ của ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 tại Ngân hàng TMCP S. Quá trình giải quyết vụ án, ông T2 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các bên đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án. Phía nguyên đơn có yêu cầu không tiến hành hòa giải nữa nên Tòa án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 184; điểm e khoản 1 Điều 217; khoản 1 Điều 227; 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 149; khoản 2 Điều 155; 275; 280; 292; 293; 294; 295; 298; 299; 301; 317; 351; 357; 429; 463; 466 và 468 Bộ luật dân sự; các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; được sửa đổi; bổ sung năm 2017; Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; giải quyết theo hướng:
-
Đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng TMCP S về các khoản tiền lãi với tổng số tiền 6.097.294.919 đồng (Sáu tỷ, không trăm chín mươi bảy triệu, hai trăm chín mươi bốn nghìn, chín trăm mười chín đồng) (trong đó: lãi trong hạn là 122.958.335 đồng; lãi phạt quá hạn là 5.960.562.500 đồng và phạt chậm thanh toán lãi là 13.774.084 đồng) do đã hết thời hiệu khởi theo quy định của pháp luật.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc buộc ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ gốc là 4.500.000.000 đồng (Bốn tỷ, năm trăm triệu đồng) theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì trước hết Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu người bảo lãnh là ông Trần Ngọc T2 thực hiện trả nợ thay; khi ông Trần Ngọc T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số B6, tờ bản đồ ./., diện tích đất 396m² tại địa chỉ: phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường T, thị xã H, Thành phố H) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 441132 do UBND thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 10/3/2016, đứng tên ông Trần Ngọc T2 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ của bên thứ ba số: 32/HĐBĐ–2016 ngày 14/3/2016, được lập và công chứng tại Phòng C2, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Trường hợp sau khi bán tài sản bảo đảm mà không đủ thanh toán số tiền vốn gốc nợ vay, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, chi phí Tòa án, chi phí phát mãi tài sản thì ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu cho đến khi hết nợ.
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí và đã nộp đủ nên không phải xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị đơn chịu án phí có giá ngạch theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 phải trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng theo các Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo thỏa thuận tại khoản 12.3 Điều 12 của hợp đồng về giải quyết tranh chấp, các bên thống nhất yêu cầu Tòa án nơi có trụ sở hoặc chi nhánh của Ngân hàng TMCP S giải quyết. Xét Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh H1 có trụ sở tại số E đường H, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Căn cứ Điều 5 Nghị quyết số 1314/NQ-UBTVQH15 ngày 30/11/2024 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của thành phố H giai đoạn 2023-2025, qua đó Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế chính thức giải thể kể từ ngày 01/01/2025 và thành lập Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa và Tòa án nhân dân quận Phú Xuân. Xét địa chỉ trụ sở của Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh H1 sau khi sắp xếp đơn vị hành chính thuộc phường P, quận T, thành phố H nên vụ án được Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa tiếp tục giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Ngọc T2 không có yêu cầu độc lập và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông T2.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về yêu cầu trả nợ của nguyên đơn và yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện của bị đơn, thấy rằng:
Hợp đồng tín dụng số 92/2017/HĐTD-NH-CN ngày 09/3/2017 và Hợp đồng tín dụng số 97/2017/HĐTD-NH-CN ngày 10/3/2017 được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng quy định của pháp luật cả về nội dung lẫn hình thức nên có hiệu lực thi hành đối với các bên. Do ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 thanh toán nợ gốc và các khoản nợ lãi được hai bên xác lập trong hợp đồng tín dụng đến thời điểm xét xử sơ thẩm.
Theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 09/3/2017 và 10/3/2017 thì thời hạn cho vay là 12 tháng (01 năm), do đó xác định ngày kết thúc thời hạn của các hợp đồng lần lượt là ngày 09/3/2018 và 10/3/2018. Tuy nhiên, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ tháng 01/2018 nên xác định từ tháng 01/2018 quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm. Theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”. Thời điểm nguyên đơn thực hiện khởi kiện bị đơn tại Tòa án là ngày 24/6/2024 thì thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đã hết. Do đó, yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện của bị đơn đối với việc tranh chấp hợp đồng tín dụng là có cơ sở. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp “Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” nên đối với số tiền nợ gốc 4.500.000.000 đồng là số tiền thuộc sở hữu của nguyên đơn. Do đó, bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc nói trên cho nguyên đơn. Đối với số tiền nợ lãi bao gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn và phạt chậm thanh toán lãi mà nguyên đơn yêu cầu; căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 184, điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ, không xem xét, giải quyết.
[2.2] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Theo hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ cho bên thứ ba số 32/HĐBĐ–2016 ngày 14/3/2016 là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số B6, tờ bản đồ ../., diện tích đất 396m² tại địa chỉ: phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường T, thị xã H, Thành phố H) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 441132 do UBND thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 10/3/2016, đứng tên ông Trần Ngọc T2.
Theo quy định tại điểm j khoản 6.2 Điều 6 của Hợp đồng thế chấp số 32/HĐBĐ–2016 ngày 14/3/2016; trong trường hợp ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu người bảo lãnh là ông Trần Ngọc T2 phải trả nợ thay hoặc xử lý tài sản bảo đảm là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 339 và khoản 1 Điều 342 của Bộ luật Dân sự.
Xét thấy, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ của bên thứ ba số 32/HĐBĐ–2016 ngày 14/3/2016 được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định nên hợp pháp và có hiệu lực pháp luật. Do đó, trong trường hợp ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ thì trước hết Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu người bảo lãnh là ông Trần Ngọc T2 thực hiện trả nợ thay; khi ông Trần Ngọc T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Trường hợp sau khi bán tài sản bảo đảm mà không đủ thanh toán số tiền nợ gốc, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, chi phí Tòa án, chi phí phát mãi tài sản thì ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu cho đến khi trả hết nợ.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Ngân hàng TMCP S tự nguyện chịu toàn bộ và đã nộp đủ nên không xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu án phí trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Tòa án chấp nhận, cụ thể:
- Buộc ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 phải chịu: 112.000.000 đồng + ((4.500.000.000 đồng – 4.000.000.000 đồng) × 0,1%) = 112.500.000 đồng.
- Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 184; điểm e khoản 1 Điều 217; khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 149; khoản 2 Điều 155; Điều 275; Điều 280; Điều 292; Điều 293; Điều 294; Điều 295; Điều 298; Điều 299; Điều 301; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 320; Điều 323; Điều 324; khoản 1 Điều 339; khoản 1 Điều 342; Điều 351; Điều 357; Điều 429; Điều 463; Điều 466 của Bộ luật dân sự;
Áp dụng Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản; lãi suất trung bình.
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí;
Tuyên xử:
-
Đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng TMCP S về các khoản tiền lãi với tổng số tiền là 6.097.294.919 đồng (Sáu tỷ, không trăm chín mươi bảy triệu, hai trăm chín mươi bốn nghìn, chín trăm mười chín đồng) (trong đó: lãi trong hạn là 122.958.335 đồng; lãi phạt quá hạn là 5.960.562.500 đồng và phạt chậm thanh toán lãi là 13.774.084 đồng) do đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc buộc ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ gốc là 4.500.000.000 đồng (Bốn tỷ, năm trăm triệu đồng) theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
-
Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì trước hết Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu người bảo lãnh là ông Trần Ngọc T2 thực hiện trả nợ thay; khi ông Trần Ngọc T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số B6, tờ bản đồ ./., diện tích đất 396m² tại địa chỉ: phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường T, thị xã H, Thành phố H) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 441132 do UBND thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 10/3/2016, đứng tên ông Trần Ngọc T2 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ của bên thứ ba số: 32/HĐBĐ–2016 ngày 14/3/2016, được lập và công chứng tại Phòng C2, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Trường hợp sau khi bán tài sản bảo đảm mà không đủ thanh toán số tiền vốn gốc nợ vay, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, chi phí Tòa án, chi phí phát mãi tài sản thì ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu cho đến khi trả hết nợ.
-
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí và đã nộp đủ nên không phải xem xét, giải quyết.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc ông Hồ Đình C và bà Trần Thị Thanh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.500.000 đồng (Một trăm mười hai triệu, năm trăm nghìn đồng).
- Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 58.863.000 đồng (Năm mươi tám triệu, tám trăm sáu mươi ba nghìn đồng) theo Biên thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004397 ngày 23/7/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ).
-
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án số 16/2025/DS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 16/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương yêu cầu ông Hồ Đình Công và bà Trần Thị Thanh Tâm trả nợ
