|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày: 05-3-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Hải; bà Đoàn Thị Duyên
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngân Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 19/02/2025, đối với bị cáo:
Trần Trung T; sinh ngày: 20/7/1984; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12;nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Trung T1 và con bà Chu Thị S; vợ là Lê Thị Như Q, có 02 con. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Chị Lê Thị Hoa N, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Chung cư T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/05/2024, Công an huyện K nhận được công văn số 215/CCTKV-KTr ngày 03/05/2024 của Chi cục Thuế khu vực T6 - Kiến Xương “V/v cảnh báo doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế, hoá đơn” đối với Công ty TNHH N3, MST: 1001248661, địa chỉ: thôn T, V, K, Thái Bình. Nội dung công văn thể hiện có 37 hoá đơn giá trị gia tăng (GTGT) mua vào của Công ty N4 có dấu hiệu rủi ro, gồm: 08 hoá đơn GTGT của Công ty TNHH N3, MST: 0315045558; 03 hoá đơn của Công ty TNHH N3, MST: 0314941488; 06 hoá đơn GTGT của Công ty TNHH N3, MST: 0317026367; 06 hoá đơn GTGT của Công ty TNHH N3, MST: 0110195954; 05 hoá đơn của Công ty TNHH N3, MST: 01102038; 09 hoá đơn GTGT của Công ty TNHH N3, MST: 0601228476.
Kết quả điều tra xác định: Đầu năm 2022, Trần Trung T làm nghề sửa chữa máy may công nghiệp cho các công ty may trên địa bàn tỉnh Thái Bình, do có nhu cầu mua các vỉ mạch điện tử để thay thế, sửa chữa cho khách hàng nên T đã sử dụng tài khoản “Điện tử Ngọc T2” đăng nhập vào ứng dụng facebook để tìm mua các vỉ mạch điện tử. Thông qua mạng internet, T đã tìm và mua được nhiều vỉ mạch điện tử trên các hội, nhóm “Hiệp hội máy may công nghiệp”, việc mua bán đều được giao dịch qua mạng, dịch vụ chuyển phát hàng hóa, không có hóa đơn, chứng từ. Trong quá trình đi sửa chữa, T sử dụng các vỉ mạch đã mua được để thay thế cho các máy may của khách hàng, do khách hàng yêu cầu phải cung cấp hoá đơn GTGT để thực hiện việc thanh quyết toán. Ngày 09/05/2022, T đã đăng ký thành lập Công ty TNHH N3 có địa chỉ ở thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình, Mã số doanh nghiệp: 1001248661, ngành nghề hoạt động chính: Mua bán, sửa chữa thiết bị điện tử, máy may công nghiệp, do T là người đại diện theo pháp luật - Giám đốc Công ty, mục đích để mua hóa đơn GTGT hợp thức hóa số hàng hóa mua được xuất cho khách hàng khi bán các vỉ mạch điện tử theo yêu cầu. Sau đó, T đã lên các hội nhóm trên facebook và zalo tìm mua hoá đơn GTGT trái phép để hợp thức hóa số hàng hóa T đã mua trôi nổi trước đó. Từ tháng 5/2022 đến tháng 3/2023, thông qua tài khoản zalo “Điện Tử Ngọc Tuấn”, T đã tìm và mua trái phép 28 hóa đơn GTGT, cụ thể như sau:
- Từ tháng 07/2022 đến tháng 12/2022, T liên hệ với tài khoản zalo “HÂN S,GON” mua trái phép 17 hóa đơn GTGT, với mỗi hoá đơn T phải trả cho “HÂN S,GÒN” số tiền từ 2,5% đến 7% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa bao gồm thuế GTGT. Cụ thể:
- + 08 (tám) hoá đơn GTGT của Công ty TNHH N3, MST: 0315045558, có địa chỉ tại phòng A, tầng lửng, cao ốc Đại Thanh B, số 911-913-915-917, N, Phường A, Quận E, thành phố Hồ Chí Minh, người đại diện theo pháp luật là Đoàn Công Nguyên sinh năm 1985, địa chỉ đường B, đường B, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ (gồm các hóa đơn số: 2078 ngày 11/7/2022, số 2955 ngày 02/8/2022, số 3306 ngày 10/8/2022, số 3403 ngày 12/8/2022, số 3908 ngày 24/8/2022, số 3957 ngày 25/8/2022, số 5356 ngày 27/9/2022, số 5417 ngày 28/9/2022) với tổng số tiền hàng hóa chưa bao gồm thuế GTGT ghi trên hoá đơn là 59.083.640 đồng, số tiền thuế GTGT là 5.828.272 đồng, tổng giá trị hàng hóa sau thuế là 64.912.002 đồng;
- + 06 (sáu) hoá đơn GTGT của Công ty TNHH N3, MST: 0317026367, có địa chỉ tại số C T, phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh, người đại diện theo pháp luật là Đặng Thị Tuyết N1 sinh năm 1988, trú tại 1 N, phường A, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh (gồm các hoá đơn: số 3803 ngày 28/9/2022; số 3953 ngày 01/10/2022; số 3954 ngày 01/10/2022; số 4403 ngày 12/10/2022; số 4906 ngày 25/10/2022; số 5951 ngày 18/11/2022), với tổng số tiền hàng hóa chưa bao gồm thuế GTGT ghi trên hoá đơn là 37.922.728 đồng, số tiền thuế GTGT là 3.792.272 đồng, tổng giá trị hàng hóa sau thuế là 41.715.000 đồng;
- + 03 (ba) hoá đơn của Công ty TNHH N3, MST: 0314941488, có địa chỉ tại Số C, đường P, xã B, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh, người đại diện theo pháp luật là Phạm Bá T3 sinh năm 1992, địa chỉ trú tại C G, phường C, Quận F, thành phố Hồ Chí Minh (gồm các hoá đơn: số 1705 ngày 16/7/2022; số 3172 ngày 18/8/2022; số 3201 ngày 19/8/2022), với tổng số tiền hàng hóa chưa bao gồm thuế GTGT ghi trên hoá đơn là 18.437.099 đồng, số tiền thuế GTGT là 1.794.985 đồng, tổng giá trị hàng hóa sau thuế là 20.232.084 đồng.
Tổng số tiền mua trái phép 17 hoá đơn GTGT trên là 4.900.000 đồng, T đã chuyển khoản bằng tài khoản cá nhân của T mở tại ngân hàng V1 (V2), số tài khoản là 124045045 đến số tài khoản ngân hàng do “HÂN S, GÒN” cung cấp. Trong đó có 7 lần chuyển khoản đến số tài khoản 060281982489 ngân hàng TMCP S1, chủ tài khoản là Mai Hoài G sinh năm 2003, trú tại tổ dân phố số E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, với tổng số tiền là 3.000.000 đồng và 7 lần chuyển khoản đến số tài khoản 0971957677 mở tại Ngân hàng V2, chủ tài khoản Trần Ngọc Đ sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai với tổng số tiền là 1.900.000 đồng.
- Đến khoảng tháng 12/2022 do không liên lạc được với “HÂN S,GÒN” nên T đã lên mạng tìm và liên hệ với tài khoản zalo “Binh Binh” để mua trái phép 11 (mười một) hoá đơn GTGT, với mỗi hóa đơn GTGT Tảo phải trả cho “Binh Binh" 2,5% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa bao gồm thuế GTGT, cụ thể:
- + 06 (sáu) hoá đơn GTGT của Công ty TNHH N3 (Công ty N3), MST: 0110195954, địa chỉ: số I H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội, người đại diện theo pháp luật Nguyễn Anh T4 sinh năm 1986, trú tại số B ngõ H, đường L, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội (gồm các hóa đơn: Số 55 ngày 12/12/2022, số 71 ngày 14/12/2022, số 114 ngày 21/12/2022, số 162 ngày 28/12/2022, số 101 ngày 13/01/2023, số 105 ngày 13/01/2023) với tổng số tiền hàng hóa chưa bao gồm thuế GTGT ghi trên hoá đơn là 64.704.542 đồng, số tiền thuế GTGT là 6.470.459 đồng, tổng giá trị hàng hóa sau thuế là 71.175.001 đồng;
- + 05 (năm) hoá đơn GTGT của Công ty TNHH N3 (Công ty N3), MST: 0110203891, địa chỉ: 1, ngõ A, phố N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội, người đại diện theo pháp luật là Nguyễn Đăng L sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội (gồm các hóa đơn: số 10 ngày 31/3/2023, số 11 ngày 07/02/2023, số 15 ngày 17/02/2023, số 21 ngày 07/3/2023, số 22 ngày 07/3/2023) với tổng số tiền hàng hóa chưa bao gồm thuế GTGT ghi trên hoá đơn là 31.099.993 đồng, số tiền thuế GTGT là 2.560.007 đồng, tổng giá trị hàng hóa sau thuế là 34.210.000đồng.
Tổng số tiền T phải trả để mua 11 hoá đơn GTGT trên là 2.395.000 đồng. Tảo đã 03 lần giao dịch chuyển khoản tiền từ tài khoản 124045045 của T đến tài khoản do “Binh Binh" cung cấp số 0976473408 mở tại Ngân hàng T7 (T8), chủ tài khoản Nguyễn Huy Đ1 sinh năm 2003, trú tại thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội với tổng số tiền 1.250.000 đồng cho 03 (ba) hoá đơn GTGT số 55, 71, 114 của Công ty N3. Số tiền còn lại do đến khoảng tháng 03/2023 T không liên lạc được với “B” nữa nên T chưa trả.
Đến cuối tháng 3/2023, Công ty N3 được chi cục thuế khu vực T6 – Kiến Xương cảnh báo rủi ro về hoá đơn GTGT mua vào. Do lo sợ bị phát hiện việc mua trái phép hoá đơn GTGT nên T đã tự kê khai lại tờ khai thuế bổ sung, loại bỏ hàng hoá dịch vụ đầu vào có sử dụng các hoá đơn GTGT bị cảnh báo rủi ro và nộp lại toàn bộ số tiền thuế giá trị gia tăng căn cứ theo các hoá đơn bị rủi ro cho cơ quan thuế.
Từ tháng 4 đến tháng 7/2023 T có mua hàng của Công ty TNHH N3, MST: 0601228476, địa chỉ: TDP số H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định, thể hiện qua 09 (chín) hoá đơn GTGT có kèm theo hợp đồng kinh tế, phiếu xuất kho hàng hóa của Công ty M.
Cáo trạng số 15/CT-VKSKX ngày 08/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương truy tố bị cáo Trần Trung T về tội: “Mua bán trái phép hóa đơn” theo Khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình giữ nguyên truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung T phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
- - Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 203; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 50 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Trung T mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 47; căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 USB bên trong có dữ liệu điện tử sao chép từ máy tính cá nhân của bị cáo.
- - Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố và không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bởi các chứng cứ khác như:
- - Công văn số 215/CCTKV-KTr ngày 03/5/2024 của Chi cục thuế khu vực huyện K – Tiền H về việc đề nghị xác minh đối với doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế, hóa đơn và bảng kê 37 hóa đơn mua vào của Công ty TNHH N3 (Bút lục từ số 33 đến số 95);
- - Các biên bản làm việc với Trần Trung T về việc kiểm tra máy tính xách tay cá nhân của Tảo do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K lập ngày 26/6/2024 và ngày 18/9/2024 tại Công an huyện K, nội dung thể hiện các tin nhắn zalo giữa Tảo với “Binh Binh” và “HÂN S,GON” về việc giao dịch mua bán hóa đơn (Bút lục từ số 647 đến số F, từ số 1034 đến số 1097);
- - Biên bản làm việc và kiểm tra thực trạng công ty TNHH N3 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K lập ngày 03/7/2024 tại Trụ sở công ty TNHH N3 (Bút lục số 664b);
- - Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K lập ngày 18/9/2024 tại Công an huyện K, nội dung: Tảo giao nhận USB chứa dữ liệu điện tử từ máy tính cá nhân của Trần Trung T và hợp đồng kinh tế, phiếu xuất kho hàng hóa của Công ty TNHH N3 (Bút lục số 1009 đến 1033);
- - Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K lập ngày 18/9/2024 tại Công an huyện K, nội dung Trần Trung T giao nhận 28 Hóa đơn GTGT của 05 công ty đã bán hóa đơn trái phép cho Trần Trung T (Bút lục từ số 321 đến số 646)
- - Biên bản làm việc do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K lập ngày 06/01/2025 tại Chi cục thuế khu vực T6 – Kiến Xương, nội dung thể hiện việc kê khai, đăng ký và thực hiện nghĩa vụ thuế của Công ty TNHH N3 (Bút lục số 1113 - 1114);
- - Tài liệu sao kê giao dịch chuyển tiền mua hóa đơn từ tài khoản của Trần Trung T đến tài khoản Ngân hàng S2 mở tại Ngân hàng V2, tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP S1 (S3) và tài khoản Ngân hàng S4 mở tại Ngân hàng T7 (T8) (Bút lục từ số 237 đến số 301);
- - Công văn trả lời số 185 ngày 27/9/2024 của ngân hàng S3, Công văn số 8404 ngày 04/9/2024 của Ngân hàng T8 và Công văn số 7165 ngày 18/11/2024 của ngân hàng V2 (Bút lục từ số 302 đến số C, từ số 784 đến 818, từ số 819 đến số 1008);
- - Công văn số 1773/CCTQ10-KT3 ngày 27/8/2024, Công văn số 1743/CCTQ10-KT3 ngày 21/8/2024, của Chi cục thuế Q1, Cục thuế thành phố H xác định tình trạng hoạt động của Công ty TNHH N3 và Công ty TNHH N3 (Bút lục số 503 đến số 504, 531 đến số 532);
- - Công văn số 25232/CCTGV-KTNB ngày 15/11/2024 của Chi cục thuế quận G, Cục thuế thành phố H xác định tình trạng hoạt động của công ty TNHH N3 (Bút lục số 717);
- - Công văn số 15759/CCT-KTr1 ngày 12/6/2024 của Chi cục thuế quận B, Cục thuế thành phố H xác định tình trạng hoạt động của Công ty N3 và Công ty N3 (Bút lục số 354);
- - Biên bản ghi lời khai người làm chứng là Lê Thị Hoa N, sinh năm 1989, trú tại chung cư T, phường Q, thành phố T. Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội.
[3] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Trung T làm nghề sửa chữa máy may công nghiệp cho các công ty may trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Quá trình sửa chữa, bị cáo T đã sử dụng hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ, không có hóa đơn, chứng từ, nên khách hàng yêu cầu hàng hóa phải có hóa đơn, bị cáo T đã thành lập Công ty nhằm mua trái phép hóa đơn GTGT xuất cho khách hàng để hợp lý hóa số hàng hóa không có nguồn gốc đầu vào. Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2022 đến tháng 3/2023, thông qua tài khoản zalo, bị cáo T đã tìm và mua trái phép 28 hóa đơn GTGT có ghi nội dung của các công ty: Công ty TNHH N3, Công ty TNHH N3, Công ty TNHH N3, Công ty TNHH N3, Công ty TNHH N3, với tổng số tiền ghi trên hóa đơn là 232.244.087 đồng. Trong vụ án này, Trần Trung T phải chịu trách nhiệm cá nhân. Do đó, bị cáo Trần Trung T đã phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn” quy định tại Khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 203 Bộ luật Hình sự: Tội “In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” quy định: “1. Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.... 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
[3] Xét tính chất mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thuế, tài chính kế toán, chế độ quản lý nhà nước đối với các loại hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Bị cáo T là lao động tự do, thu nhập không ổn định và phạm tội không nhằm mục đích thu lợi bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 USB bên trong có dữ liệu điện tử sao chép từ máy tính cá nhân của bị cáo là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
[6] Về các vấn đề khác:
[6.1] Đối với việc Công ty TNHH N3 kê khai các hóa đơn GTGT mua vào làm thiếu thuế với số tiền 67.781.877 đồng, có dấu hiệu của hành vi trốn thuế. Do số tiền dưới 100.000.000 đồng, Công ty TNHN3 Ngọc Tuấn V và người đại diện theo pháp luật của Công ty là bị cáo Trần Trung T chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế, chưa bị kết án về tội trốn thuế hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật Hình sự, do đó Cơ quan điều tra không xử lý đối với bị cáo T và Công ty TNHH N3 về tội “Trốn thuế” theo Điều 200 Bộ luật Hình sự. Cơ quan CSĐT Công an huyện K chuyển tài liệu hồ sơ liên quan đến Chi cục thuế khu vực huyện T - K để xem xét, xử lý theo quy định.
[6.2] Đối với chị Lê Thị Hoa N là người được bị cáo T thuê lập báo cáo tài chính và thực hiện tờ khai thuế cho Công ty TNHH N3, bản thân chị N không biết, không bàn bạc, không tham gia vào việc mua bán hóa đơn trái phép và không được hưởng lợi ích gì từ việc bị cáo T mua bán trái phép hóa đơn, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với chị N là có căn cứ.
[6.3] Đối với chị Phạm Thị Huyền T5 và chị Phạm Thị H1 được người có tài khoản zalo “Binh Binh” thuê làm thủ tục đăng ký kinh doanh đối với Công ty N3 và Công ty N3. Tài liệu điều tra xác định, chị T5 và chị H1 không biết tên, tuổi, địa chỉ của người thuê làm thủ tục đăng ký kinh doanh, hai chị không biết việc “Binh Binh” thành lập Công ty để mua bán hoá đơn trái phép. Do đó, không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị T5 và chị H1.
[6.4] Đối với anh Mai Hoài G, anh Nguyễn Huy Đ1, anh Trần Ngọc Đ là chủ tài khoản ngân hàng mà bị cáo T đã chuyển khoản trả tiền mua hóa đơn trái phép. Tài liệu điều tra xác định anh G, anh Đ1, anh Đ đều không sử dụng các tài khoản ngân hàng trên để chuyển, nhận tiền và cũng không biết về giao dịch chuyển, nhận tiền với tài khoản 124045045 mở tại Ngân hàng V1 (V2) của bị cáo Trần Trung T. Do đó, không có căn cứ xử lý đối với các anh Đ1, G và Đ.
[6.5] Đối với các công ty đã xuất bán hóa đơn GTGT trái phép cho Công ty TNHH N3 gồm: Công ty TNHH N3; Công ty TNHH N3; Công ty TNHH N3; Công ty TNHH N3; Công ty TNHH N3. Tài liệu xác minh xác định các công ty trên đều không hoạt động tại địa chỉ như đã đăng ký với cơ quan Thuế, hiện nay hoạt động ở đâu thì không xác định được. Tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch của người đại diện theo pháp luật các công ty trên xác định anh Nguyễn Anh T4, anh Nguyễn Đăng L, anh Phạm Bá T3 đều xác nhận bản thân không thành lập và cũng không biết gì về hoạt động của các công ty N3, công ty N3, công ty B1. Các anh không biết về hoạt động kinh doanh sản xuất và việc mua bán hoá đơn GTGT của các công ty trên, không biết ai là người sử dụng giấy tờ căn cước công dân để thành lập Công ty, do đó không có đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm đối với anh L, anh T4, anh T3.
[6.6] Đối với người đại diện pháp luật của Công ty N3 là bà Đặng Thị Tuyết N1 và Công ty N3 là ông Đào Công N2, tài liệu xác minh nhân thân, lai lịch của các cá nhân trên tại chính quyền địa phương nơi đăng ký hộ khẩu thường trú đều xác định những cá nhân trên không có mặt tại địa phương và không rõ hiện đang làm gì ở đâu, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, Thái Bình không có căn cứ để triệu tập, đấu tranh.
[6.7] Đối với việc mua hóa đơn của Công ty TNHH N3, tài liệu điều tra xác định việc mua hàng hóa và xuất hóa đơn GTGT đều phù hợp với hoạt động mua bán hàng hóa giữa Công ty M với Công ty N3 và đúng quy định pháp luật, do đó hành vi này của bị cáo T không cấu thành tội “Mua bán trái phép hóa đơn".
[7] Về án phí: Bị cáo Trần Trung T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1 Điều 203; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 50; Điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ vào Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Trung T phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Trung T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/3/2025.
- Giao bị cáo Trần Trung T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 USB bên trong có dữ liệu điện tử sao chép từ máy tính cá nhân của bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo Trần Trung T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
8. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/3/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về mua bán trái phép hóa đơn (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Trung Tảo
