|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG -------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -------- |
Bản án số: 16/2025/DS-ST
Ngày: 15-4- 2025
V/v: “Tranh chấp về hoạt động cung ứng
dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông Thanh
- - Các hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đồng Tịnh và bà Vũ Thị Lệ Thủy.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Lan - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà: Bà Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 335/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2024, về việc: “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 335/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2025/QĐST- DS ngày 28/3/2025; giữa:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ trụ sở chính: Lầu H, 2 N, phường H, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc.
- Đại diện theo ủy quyền (theo Quyết định số 1345/2023/QĐ-PC ngày 08/4/2024): Ông Hoàng Thanh H – Giám đốc Chi nhánh Đ.
- Đại diện theo ủy quyền lại (theo Giấy ủy quyền số 05/2024/UQ-CNĐN ngày 26/08/2024): Bà Nguyễn Thị Kim K – Chuyên viên xử lý nợ Thẻ; địa chỉ: 1 B, quận H, TP .. Có mặt.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng D1, sinh năm 1994; địa chỉ: Số D N, Tổ E phường T, quận S, TP .. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án ngày 21/11/2024 và quá trình tố tụng tại Tòa án, đại diện nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim K trình bày:
Theo Hợp đồng thẻ tín dụng ký ngày 18/05/2023 (kèm theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ theo thu nhập của bà D1, Ngân hàng đã cấp hạn mức tín dụng 170.000.000 đồng với mục đích dùng cá nhân.
Đến ngày 25/02/2024 bà D1 đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 822.653.557 đồng. Bà D1 đã thanh toán cho Ngân hàng với tổng số tiền 656,199,084 đồng. Trong đó: phí trễ hạn: 3.006.472 đồng, phí vượt hạn mức: 357.831 đồng, phí: 1.499.000 đồng, lãi phát sinh: 22.160.319 đồng và thanh toán gốc 629.175.462 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Đến ngày 26/02/2024 bà D1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà D1 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu (Dư nợ) sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 26/08/2024, bà D1 còn nợ ngân hàng các khoản sau:
- Dư nợ: 193.478.095 đồng; lãi quá hạn: 43.939.398 đồng. Tổng cộng: 237.417.493 đồng.
- Lãi suất trong hạn: 2.60%/tháng.
- Lãi suất quá hạn: 3.9%/tháng (2.60%×150%).
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà D1 có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà D1 vẫn chưa thanh toán cho Ngân hàng, vi phạm các Điều khoản và Điều kiện đã qui định tại Hợp đồng.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Quý Tòa giải quyết buộc bà D1 phải phải thanh toán dứt điểm toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính từ ngày 26/02/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 15/4/2025, với số tiền 293.122.085 đồng. Trong đó: Nợ gốc 193.478.095 đồng; nợ lãi quá hạn: 99.643.990 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/4/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất do các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/05/2023.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng D1 đã được Tòa án tổng đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến nên không có lời khai của bà D1 trong hồ sơ vụ án và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như ý kiến về việc có hay không yêu cầu phản tố.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
- + Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng.
- + Về người tham gia tố tụng:
- * Đối với nguyên đơn: Chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
- * Đối với bị đơn: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không tham gia tố tụng. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai là chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 3 Điều 228 BLTTDS, xét xử vắng mặt bị đơn.
- + Về nội dung: Căn cứ vào Điều 463; 466 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91, 95 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi năm 2017; Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt” của Ngân hàng TMCP S đối với bà Nguyễn Thị Hồng D1.
Buộc bà Nguyễn Thị Hồng D1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền: 293.122.085 đồng. Trong đó: Nợ gốc 193.478.095 đồng; nợ lãi quá hạn: 99.643.990 đồng (lãi tạm tính đến ngày 15/4/2025) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/4/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất do các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/05/2023.
*Về chứng cứ:
Những sự kiện không cần phải chứng minh:
Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 18/05/2023.
Những tình tiết các bên thống nhất: Không có.
Những tình tiết các bên không thống nhất: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa; Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án; Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính Phủ về thanh toán không dùng tiền mặt và Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30.6.2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng thì tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Thị Hồng D1 là tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Bà Nguyễn Thị Hồng D1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà D1.
[2]. Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy, G đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/5/2023 (kèm theo Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Thị Hồng D1 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà D1 đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo thông báo giao dịch của Ngân hàng liên tục không trả nợ trong nhiều kỳ. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà D1 vẫn không trả được nợ. Do đó, ngày 26/02/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà D1 và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn trên toàn bộ dư nợ theo quy định của Ngân hàng. Như vậy, bà D1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên được cấp thẻ như thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 18/5/2023. Việc khởi kiện của Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Hồng D1 phải trả số tiền: 293.122.085 đồng. Trong đó: Nợ gốc 193.478.095 đồng; nợ lãi quá hạn: 99.643.990 đồng, lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 15/4/2025 là phù hợp với quy định tại Điều 280; Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91, 95 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi năm 2017; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và Án lệ số 08/2016/AL ngày 17 tháng 10 năm 2016 nên cần được chấp nhận.
Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 16/5/2025 trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thoả thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/5/2023 cho đến khi bà D1 thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019.
[3]. Về án phí DS-ST: Bà Nguyễn Thị Hồng D1 phải chịu án phí sơ thẩm đối với số tiền yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận là 293.122.085 đồng, tương ứng: 14.656.104 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền đã nộp tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; 466 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91, 95 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi năm 2017; Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt” của Ngân hàng TMCP S đối với bà Nguyễn Thị Hồng D1.
- Buộc bà Nguyễn Thị Hồng D1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền: 293.122.085 đồng (Hai trăm chín mươi ba triệu một trăm hai mươi hai ngàn không trăm tám mươi lăm đồng). Trong đó: Nợ gốc 193.478.095 đồng; nợ lãi quá hạn: 99.643.990 đồng (lãi tạm tính đến ngày 15/4/2025) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/4/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất do các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/05/2023.
-
Án phí DS- ST: 14.656.104 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm năm mươi sáu ngàn một trăm lẻ bốn đồng) bà Nguyễn Thị Hồng D1 phải chịu.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 5.935.437 đồng (Năm triệu chín trăm ba mươi lăm ngàn bốn trăm ba mươi bảy đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003160 ngày 13/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
-
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày nhận (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Đông Thanh |
Bản án số 16/2025/DS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
- Số bản án: 16/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt” của Ngân hàng TMCP S đối với bà Nguyễn Thị Hồng D
