|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/ DS-ST Ngày 14/4/2025 V/v:“ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vi Thị Hương Giang.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn La;
- Ông Đoàn Văn Cương.
Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà:
Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 226/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2025/QĐST-DS ngày 28/3/2025, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; địa chỉ: thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; địa chỉ: thôn H, Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/12/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết, chị có cho anh Nguyễn Văn T vay tiền, cụ thể các lần như sau:
Theo hợp đồng cho vay tiền ngày 30/11/2018 số tiền vay là: 50.000.000đ, anh T đã trả cho chị các lần tiền sau: ngày 30/12/2018 trả 3.000.000đ, ngày 31/1/2019 trả: 3.100.000đ, ngày 28/2/2019 trả: 2.800.000đ, ngày 31/3/2019 trả: 3.100.000đ, ngày 30/4/2019 trả: 3.000.000đ, tổng số tiền anh T đã trả là: 15.000.000đ, số tiền còn lại là: 35.000.000đ (ba mươi năm triệu đồng).
Theo hợp đồng cho vay tiền ngày 29/12/2018 với số tiền vay là: 50.000.000đ, anh T đã trả cho chị các lần trả sau: ngày 31/1/2019 trả: 3.400.000đ, ngày 28/2/2019 trả: 2.800.000đ, số tiền anh T đã trả là: 6.200.000đ, số tiền còn lại là: 43.800.000đ.
Về lãi suất: Chị yêu cầu anh T trả lãi cho chị là 12%/ năm, tương đương với lãi suất là 1%/ tháng, tính từ ngày 30/4/2019 tính ngày xét xử vụ án sơ thẩm tạm tính lãi tính đến ngày 05/3/2025, cụ thể: 5 năm 10 tháng 3 ngày = Lãi suất năm: 35.000.000 đ x 12%/ năm = 4.200.000đ/ năm x5 năm = 21.000.000đ, lãi suất tháng = 35.000.000 đ x1%/ tháng x 10 tháng = 3.500.000đ, lãi suất 03 ngày = lãi suất tháng: ngày = 35.000đ, tổng số tiền lãi là: 24.535.000đ, tổng gốc và lãi là: 59.535.000đ. Chị yêu cầu anh T trả lãi cho chị là 12%/ năm, tương đương với lãi suất là 1%/ tháng, tính từ ngày 28/02/2019 tính ngày xét xử vụ án sơ thẩm, cụ thể: 6 năm 5 ngày = Lãi suất năm: 35.000.000 đ x 12%/ năm = 4.200.000đ/ năm x6 năm = 25.200.000đ, lãi suất 05 ngày = lãi suất tháng: ngày = 58.000đ, tổng số tiền lãi là: 25.258.000đ, tổng gốc và lãi là: 69.058.000đ. Tổng số tiền gốc và lãi là: 78.800.000đ + tiền lãi: 49.793.000đ = 128.593.000đ.
Đến ngày 10/4/2025, chị H yêu cầu về lãi suất: Khoản vay ngày 30/11/2018, tính lãi từ ngày 17/12/2024 đến ngày 14/4/2025 là: 35.000.000 đ x10%/ năm x 03 tháng 27 ngày = 1.138.000đ; Khoản vay ngày 29/12/2018, tính lãi từ ngày 17/12/2024 đến ngày 14/4/2025 là: 43.800.000 đ x10%/ năm x 03 tháng 27 ngày = 1.424.000đ. Tổng lãi đến ngày xét xử là: 2.562.000đ, tổng số tiền gốc và lãi là: 81.362.000đ.
Nguồn gốc số tiền cho vay là tiền riêng của chị không liên quan đến chồng chị là ông Phạm Văn T1. Số tiền anh T vay không liên quan đến vợ T, nên chị không yêu cầu vợ anh T trả nợ.
Tổng số tiền anh T đã trả cho chị theo hai hợp đồng vay là: 21.200.000đ (hai mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng) đều được ghi vào mặt sau của giấy vay mặc dù anh T không ký nhận.
Khi vay hai bên có lập hợp đồng cho vay tiền, ký tên nhưng không thỏa thuận thời hạn trả và lãi suất cho vay, chị đòi anh T nhiều lần nhưng khất nợ, đến nay chưa trả cho chị số tiền lãi nào.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Chị Nguyễn Thị H chị có yêu cầu anh T trả cho số tiền vay theo hai hợp đồng là: 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) và tiền lãi, chị đồng ý trừ số tiền 21.200.000đ anh T đã trả vào số tiền vay gốc, nên xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền vay của hai hợp đồng là: 21.200.000đ và rút toàn bộ yêu cầu trả tiền lãi là: 2.562.000đ, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của chị là tự nguyện, không bi ai ép buộc. Nay, chị yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn T trả tiền vay là: 78.800.000đ (Bẩy mươi tám triệu bẩy trăm nghìn đồng) theo hai hợp đồng cho vay tiền cho chị.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có mặt giữ nguyên ý kiến đã trình bày ở trên.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T: Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T, tuy nhiên anh T không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, anh T không đưa ra ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn T1: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có đưa anh T1 là chồng chị H vào tham gia tố tụng, tuy nhiên anh T1 có ý kiến, nguồn gốc tiền chị H cho anh T vay, là tài sản riêng của chị H, không liên quan đến anh, nên anh đề nghị Tòa án không đưa anh vào tham gia tố tụng và anh xin từ chối tham gia tố tụng trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định của BLTTDS như: Xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định tư cách người tham gia tố tụng, việc giao nộp và yêu cầu đương sự thông báo tài liệu chứng cứ cho các bên, việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ, trình tự thụ lý, giao nhận thông báo thụ lý cho VKS và các đương sự, niêm yết công khai, chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử, lập hồ sơ vụ án, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, giao quyết định xét xử và chuyển giao hồ sơ cho VKS nghiên cứu đúng quy định tại các Điều 26, 35, 39, 68, 96, 97, 195, 196, 203, 204, 209, 210, 211, 220, 179 BLTTDS. Nguyên đơn (bà H): Đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn (ông T): Chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS. Áp dụng Điều 463, 466, 469, 468 BLDS; Điều 26, 35, 39, 147, 271, 273, 227, 228, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án, xử: Đình chỉ phần yêu cầu trả lãi suất của bà Nguyễn Thị H. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H: Buộc ông Nguyễn Văn T phải trả cho bà số tiền nợ gốc 78.800.000 đồng. Về án phí: Ông T phải chịu án dân sự sơ thẩm 3.940.000 đồng. Hoàn trả bà H 3.782.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Nguyễn Văn T có nơi cư trú tại thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang là đúng quy định.
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang giải quyết: Buộc anh Nguyễn Văn T trả cho chị Nguyễn Thị H tổng số tiền gốc là: 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) và tiền lãi là: 51.300.000đ (năm mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng), tổng số tiền gốc và lãi là: 151.300.000đ (một trăm năm mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng). Toà án đã thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của BLTTDS, HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Tòa án không đưa anh Phạm Văn T1 và vợ bị đơn anh Nguyễn Văn T vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Thời hiệu của hợp đồng theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị H khởi kiện: 02 hợp đồng cho vay tiền ngày 30/11/2018, ngày 29/12/2018, có chữ ký và gi họ tên người vay tiền Nguyễn Văn T – bản gốc. Xét thấy 02 hợp đồng trên vẫn còn thời hiệu theo quy định tại 429 của BLDS.
Căn cứ khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H: 02 hợp đồng cho vay tiền ngầy 30/11/2028, ngày 29/12/2018, có chữ ký và ghi họ tên người vay tiền Nguyễn Văn T – bản gốc.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H:
Về nghĩa vụ trả tiền vay: Do có quen biết anh Nguyễn Văn T, chị H cho anh T vay 02 lần tiền vào các ngày 30/11/2018, ngày 29/12/2018. Trong quá trình giải quyết vụ án không thu thập được lời khai của anh Nguyễn Văn T nhưng theo lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phù hợp với “02 hợp đồng cho vay tiền, có nội dụng “Tên tôi là Nguyễn Văn T có vay của ông bà Phạm Văn T1, Nguyễn Thị Hằng số tiền 50.000.000đ ngày 30/12/2018; Tên tôi là Nguyễn Văn T có vay của ông bà Phạm Văn T1, Nguyễn Thị Hằng số tiền 50.000.000đ ngày 29/12/2018” người cho vay ký ghi rõ họ tên Nguyễn Thị H, người vay tiền Nguyễn Văn T. Tại quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số: 08/2025/QĐ-CCTLCC ngày 17/02/2025 cho chị H, anh T, chị H cung cấp cho Toà án “02 hợp đồng cho vay tiền các ngày 30/11/2018, 29/12/2018 - bản gốc”, bị đơn anh T không cung cấp tài liệu chứng cứ gì và không có ý kiến gửi cho Toà án. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Toà án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Anh Nguyễn Văn T có vay của chị H: Theo hợp đồng cho vay tiền ngày 30/11/2018 số tiền vay là: 50.000.000đ, anh T đã trả là: 15.000.000đ, số tiền vay còn lại là: 35.000.000đ, theo hợp đồng cho vay tiền ngày 29/12/2018 với số tiền vay là: 50.000.000đ, anh T đã trả số tiền vay là: 6.200.000đ, số tiền gốc còn lại là: 43.800.000đ, chị H đồng ý trừ số tiền 21.200.000đ, anh T đã trả vào số vay gốc, số tiền anh T còn nợ theo hai hợp đồng cho vay tiền là: 78.800.000đ (Bẩy mươi tám triệu bẩy trăm nghìn đồng).
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, về việc: Buộc anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị Hằng S tiền vay là: 78.800.000đ (Bẩy mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng) là có căn cứ cần chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự.
Xét thấy: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền cho vay là: 21.200.000đ (Hai mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng) và rút toàn bộ tiền lãi với số tiền 2.562.000đ (Hai triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng), việc rút yêu cầu của chị H là tự nguyên, không bị ai ép buộc. Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ một phần số tiền vay là: 21.200.000đ và đình chỉ toàn bộ số tiền lãi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H được chấp nhận, nên bị đơn anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (theo danh mục quy định tại điểm b mục 1.3 tiểu mục B), cụ thể: 78.800.000 đồng x 5 % = 3.940.000đ (ba triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng). Trả chị Hằng số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 357, Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự; khoản 3, khoản 5 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H:
Buộc anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị Hằng S tiền vay là: 78.800.000đ (Bẩy mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đình chỉ một phần yều cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H với số tiền vay là 21.200.000đ (Hai mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng).
Đình chỉ toàn bộ yêu cầu tiền lãi của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H với số tiền là: 2.562.000đ (Hai triệu năm trăm sáu mươi hai triệu đồng).
Về án phí: Buộc anh Nguyễn Văn T phải chịu 3.940.000đ (ba triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại chị Nguyễn Thị Hằng S tiền 3.782.000đ (ba triệu bẩy trăm tám mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003534 ngày 25/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Thị Hương Giang |
Bản án số 16/2025/ DS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 16/2025/ DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hằng - Tuấn - Vay tài sản
