|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HS-PT
Ngày 02/4/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Tuấn Anh |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Hà Giang |
| Ông Nguyễn Quang Vũ | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26, 27 tháng 3 và ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 107/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đình G do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2024/HS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
* Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Đình G (Tên gọi khác: T); Sinh ngày 25 tháng 6 năm 1968; tại: huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Tổ E, phố V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình H (đã chết) và bà: Nguyễn Thị X (đã chết); Vợ: Vương Thị S, sinh năm 1970; Con: có 02 con (lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2000); Tiền án; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/10/2023 đến ngày 29/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh. Bị cáo hiện đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo:
- + Bà Vũ Thị H1 và bà Đỗ Minh N - Đều là Luật sư Công ty L3, thuộc Đoàn luật sư thành phố H.
- Địa chỉ: Số nhà B, đại lộ H, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Bà H1, bà N có mặt khi xét xử, bà N vắng mặt khi tuyên án);
Bị hại: Bà Hà Thị N1, sinh năm 1963 (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án);
Nơi cư trú: Tổ C, phố V, thị trấn T, huyện T - Tỉnh Phú Thọ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Nguyễn Thị Minh H2, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
- Nơi cư trú: Khu A, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- + Ông Vương Trung T1 - Bí thư đảng ủy thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- + Ông Hà Xuân T2 - Phó chủ tịch UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- + Ông Đinh Văn N2 - Chủ tịch UBMTTQ thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
Người làm chứng:
- + Ông Nguyễn Quốc T3, sinh năm 1954;
- + Ông Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1954;
- + Ông Trần Đại L, sinh năm 1957;
- (Ông T3, ông T4, ông L có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- + Bà Nguyễn Thị Hoài S1, sinh năm 1967 (Vắng mặt);
- + Bà Lã Thị D, sinh năm 1959 (Vắng mặt);
- Đều cư trú tại: Tổ C, phố V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- + Bà Đỗ Thị S2, sinh năm 1968 (Vắng mặt);
- Trú tại: Tổ E, phố V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/7/2021, chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ có quyết định số 3385/QĐ-UBND về việc phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng công trình: Cải tạo, nâng cấp đường dẫn từ QL.32A kết nối khu V thuộc khu dân cư P, thị trấn T đi khu dân cư mới Soi Cả thuộc xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Tại khu phố V, thị trấn T có 19 hộ dân thuộc danh sách được kiểm đếm, đền bù giải phóng mặt bằng (trong đó có hộ Nguyễn Đình G và hộ bà Hà Thị N1). Đến cuối tháng 4 năm 2023, hộ Nguyễn Đình G chưa đồng ý cho kiểm đếm, đo đạc và hộ bà Hà Thị N1 đã cho kiểm đếm, đo đạc nhưng chưa đồng ý nhận tiền bồi thường.
Đối với hộ bà Hà Thị N1, theo kết quả kiểm kê lần 1: Tại Bảng tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư kèm theo Phương án niêm yết công khai số 01 ngày 27/6/2022 của Chủ tịch Hội đồng bồi thường thì tổng số tiền hộ bà N1 được nhận bồi thường là 132.061.000 đồng (trong đó bồi đất là 3,70m²); Kết quả kiểm kê lần 2: Tại buổi làm việc ngày 08/5/2023, bà N1 được thông báo dự kiến bà N1 sẽ được bồi thường giá trị các tài sản bị thu hồi là 550.799.000 đồng, diện tích đất thu hồi là 42,9 m² (trong đó: 7,1 m² là đất ở trong Giấy chứng nhận và 35,8 m² là phần diện tích đất tăng thêm có nguồn gốc được gia đình bà N1 khai phá và sử dụng ổn định từ năm 1992 đến nay). Tuy nhiên, bà N1 chưa đồng ý với số tiền trên mà yêu cầu được hỗ trợ thêm tiền để sửa chữa nhà.
Trong ngày 14/5/2023 và buổi sáng ngày 15/5/2023 Nguyễn Đình G sử dụng điện thoại di động có số thuê bao 0372.706.811 nhiều lần gọi vào số thuê bao 0375.691.907 của bà Hà Thị N1 để trao đổi, thúc giục bà N1 đến nhận tiền đền bù theo Dự án tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ (cụ thể: ngày 14/5/2023 G gọi 06 lần, bà N1 gọi lại cho G 02 lần; buổi sáng ngày 15/5/2023 G gọi cho bà N1 03 lần).
Sáng ngày 15/5/2023, khi bà N1 một mình đi xe đạp từ nhà, theo đường liên khu ven sông B để đến UBND huyện T hỏi lại nội dung thông báo về việc được nhận tiền bồi thường. Trên đường đi, bà N1 nhận được điện thoại của Nguyễn Đình G với nội dung: G đề nghị bà N1 cho đi cùng để hỗ trợ việc nhận tiền bồi thường tại Ủy ban nhân dân huyện T. Bà N1 đồng ý để G đưa đi nên để xe đạp vào gửi tại sân nhà bà Hà Thị H3 (sinh năm 1955 ở tại tổ B, phố H, thị trấn T, huyện T - là chị họ của bà N1) rồi đi bộ ra phía trước của Ngân hàng N4 chi nhánh huyện T (A) gặp G đang đứng đợi tại đường QL.32A.
Nguyễn Đình G điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, BKS: 19C1-263.81 chở bà N1 đến UBND huyện T. Tại UBND huyện T, sau khi được cán bộ giải thích, thông báo về số tiền bà N1 được nhận bồi thường là 550.799.000 đồng và gia đình bà N1 được ông Phan Lạc L1 (Chức vụ: phó giám đốc Công ty L4) đại diện nhà thầu thi công Dự án hỗ trợ thêm số tiền 100.000.000 đồng. Bà N1 đã đồng ý nhận tiền bồi thường, đền bù và được cán bộ phụ trách giao đủ số tiền là 650.800.000 đồng. Bà N1 kiểm đếm xong thì cho toàn bộ tiền vào hai túi nilon (một túi màu đen, một túi màu xanh) cùng G xuống chỗ để xe và để vào cốp xe mô tô của G nhờ G đưa đến A để gửi tiền tiết kiệm.
Tại sân Ngân hàng, bà N1 dự định gửi tiết kiệm 500.000.000 đồng, số tiền còn lại đem về để sửa chữa nhà sau khi bị thu hồi một phần đất đã ảnh hưởng đến ngôi nhà nên bảo G lấy 500.000.000 đồng đưa cho bà N1, số tiền còn lại 150.800.000 đồng vẫn để trong cốp xe mô tô BKS: 19C1-263.81 của G.
G cùng bà N1 làm xong thủ tục gửi tiền tại quầy thu ngân và ra ngồi tại ghế chờ ở sảnh của Ngân hàng để đợi lấy Sổ tiết kiệm. Lúc này, Nguyễn Đình G đặt vấn đề và đề nghị bà N1 phải cho G số tiền 50.000.000 đồng để G đi chi bồi dưỡng, cảm ơn cho các cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng (gồm 08 người) vì lý do nếu G không có ý kiến và nhờ những người này từ trước thì gia đình bà N1 sẽ không được nhận số tiền bồi thường như vậy. Lúc đầu bà N1 chưa đồng ý, hai bên trao đổi khoảng 15 phút thì bà N1 tin tưởng nên đã đồng ý để G lấy 50.000.000 đồng và yêu cầu G ra đưa lại bà N1 số tiền 100.800.000 đồng. G ra xe mô tô, cầm vào đưa cho bà N1 số tiền 100.800.000 đồng sau khi giữ lại 50.000.000 đồng rồi G đi về nhà trước, bà N1 một mình ngồi đợi lấy sổ tiết kiệm và về sau.
Một thời gian sau, bà N1 tìm hiểu và được biết G không sử dụng khoản tiền 50.000.000 đồng đã lấy từ bà N1 để chi cho 08 thành viên trong ban đền bù giải phóng mặt bằng như G đã nói tại Ngân hàng mà đã chiếm đoạt số tiền trên.
Sau 02 (hai) buổi làm việc tại Công an thị trấn T và Công an huyện T, vào khoảng hơn 12 giờ ngày 17/6/2023, G cùng vợ là bà Vương Thị S, con gái là Nguyễn Thị Minh H2 sang nhà bà N1 để trả lại cho bà N1 số tiền 50.000.000 đồng. Vợ chồng G đã nhờ ông Trần Đại L và bà Lã Thị D chứng kiến việc trả tiền và nhờ bà D viết hộ Giấy biên nhận. Bà N1 được gia đình G giao cho 01 bản phô tô Giấy biên nhận và đã giao nộp cho Công an huyện T (bản chính do G giữ) có nội dung: “tháng 5/2023 bà N1 đã đưa cho ông Nguyễn Đình G, sinh năm 1968 số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) để lo việc đất cát...nay không dùng đến ông G trả lại cho bà N1 đủ số tiền 50.000.000đ”. Buổi chiều cùng ngày, bà N1 đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T giao nộp số tiền 50.000.000 đồng mà G trả lại.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã Quyết định:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình G 02 (hai) năm tù. Bị cáo được trừ thời gian tạm giam (từ ngày 25/10/2023 đến ngày 29/5/2024). Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Bản án còn tuyên về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo và các vấn đề khác đúng quy định của pháp luật.
Ngày 01/11/2024, bị cáo Nguyễn Đình G có đơn kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nội dung: Kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án và tuyên bị cáo không có tội.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và cho rằng bị oan, đề nghị hủy Bản án sơ thẩm. Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 359 của BLTTHS. Tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 345; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình G. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình G nộp trong hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Đối với những người tham gia tố tụng trong vụ án liên quan đến kháng cáo Tòa án đã triệu tập theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm và theo đề nghị của Luật sư tại văn bản số 09/CV-CTL ngày 17/02/2025 của Công ty L3. Tòa án cấp phúc thẩm thấy cần thiết, quyết định triệu tập những người khác tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 351 của BLTTHS. Tại phiên tòa hôm nay người tham gia tố tụng là ông T1, ông T2 cùng có đơn xin xét xử vắng mặt, bà H2 vắng mặt nhiều lần không lý do. Người làm chứng là bà S1, bà D, bà S2 vắng mặt nhiều lần không lý do, nhưng những người đó đã có lời khai trong hồ sơ và các tài liệu do Luật sư cung cấp nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 351 của BLTTHS.
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử mặc dù có một số sai xót trong hoạt động tố tụng, nhưng không ảnh hưởng đến bản chất nội dung vụ án. Do vậy cấp phúc thẩm cần rút kinh nghiệm với cấp sơ thẩm.
[2] Về kháng cáo của bị cáo cho rằng không phạm tội. Thấy rằng:
[2.1] Theo kết quả khai thác cuộc gọi đi, đến của thuê bao điện thoại của G và bà N1 thì thấy, ngày 14/5/2023 G gọi cho bà N1 06 cuộc điện thoại, bà N1 gọi cho G 02 cuộc, ngày 15/5/2023 G là người chủ động gọi cho bà N1 03 cuộc. Mặt khác, khi G điện thoại cho bà N1 thì bà N1 đang trên đường đi đến UBND huyện T; bà N1 đồng ý để G đưa đi nên đã gửi xe đạp tại nhà người quen. Như vậy, việc G khai bà N1 sang nhà nhờ G đưa đi UBND huyện là không phù hợp; nếu bà N1 nhờ G thì G không cần thiết phải gọi điện thoại cho bà N1 nhiều cuộc như vậy và bà N1 cũng không chủ động đạp xe đi.
[2.2] Lời khai của bị hại, từ ban đầu và trong quá trình điều tra đều khẳng định ngày 15/5/2023 tại A, G yêu cầu bà N1 phải đưa cho G số tiền 50.000.000 đồng để G đi chi bồi dưỡng, cảm ơn cho các cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng (gồm 08 người) ở thị trấn và huyện T vì lý do nếu G không có ý kiến và nhờ những người này từ trước thì gia đình bà N1 sẽ không được nhận số tiền bồi thường như vậy. Do quá trình tư vấn, viết đơn G đã giúp bà N1 trong việc liên quan đến bồi thường đất. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo và bà N1 đều khẳng định không có sự thỏa thuận về việc bà N1 sẽ trả công cho bị cáo G nếu được tăng mức tiền đền bù. Lúc đầu bà N1 chưa đồng ý giao tiền, hai bên trao đổi khoảng 15 - 20 phút thì bà N1 tin tưởng việc bà nhận được số tiền như trên là do có sự tác động của G nên đã đồng ý để G lấy 50.000.000 đồng bà N1 đang gửi trong cốp xe mô tô của G mục đích là để cảm ơn các cán bộ trong Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng. Như vậy G đã nói dối bà N1 là phải cảm ơn cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng nhằm chiếm đoạt số tiền trên của bà N1, đây là hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt số tiền 50.000.000đ của bà N1.
[2.3] Lời khai của Bị cáo tại các lời khai ban đầu có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra, xác định có nhiều mâu thuẫn, trước sau bất nhất: Lúc đầu bị cáo kiên quyết chối cãi và khẳng định hoàn toàn không có việc bà N1 đưa tiền cho G tại Ngân hàng, G không nhận, không cầm bất cứ khoản tiền nào của bà N1, nhưng khi Cơ quan cảnh sát điều tra đưa ra chứng cứ được trích xuất từ dữ liệu camera an ninh tại sân phía trước A có ghi lại hình ảnh G cầm và lấy 01 cọc tiền từ túi ni lông đựng tiền của bà N1 để ở trong cốp xe mô tô của G, thì G mới thừa nhận có nhận của bà N1 số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 15/5/2023 của bà N1 là do bà N1 tự nguyện cho để cảm ơn G vì đã tư vấn pháp luật đất đai, chi phí 1 lần thuê xe taxi số tiền thuê xe ô tô là 500.000 đồng đưa bà N1 đi lại và làm thủ tục nhận tiền đền bù và bà N1 cho G tiền để đi chữa bệnh. Trong khi đó người làm chứng tại phiên tòa đã xác định G đã soạn thảo văn bản, đơn giúp 19 hộ dân ở đó (trong đó có hộ G và bà N1, bà S1) gửi các nơi, G không lấy bất kể đồng tiền công hay cảm ơn nào của các hộ dân đó, nhưng G lại cho rằng bà N1 trả công cho G như số tiền G đã lấy 50.000.000 đồng của bà N1 là không đúng. Bởi vì bà N1 và G cũng không có văn bản hoặc thừa nhận có thỏa thuận miệng việc bà N1 nhờ tư vấn và sẽ cảm ơn G số tiền cụ thể vì đã giúp bà N1 trong việc tư vấn đất cát. Như vậy nếu không trích xuất được camera Ngân hàng thì không có căn cứ xác định G nhận tiền của bà N1, do vậy G sẽ chiếm đoạt được tiền của bà N1, tội phạm hoàn thành khi G mang tiền ra khỏi A.
[2.4] Sau đó, ngày 17/6/2023 G cùng vợ, con đã đến nhà bà N1 trả lại số tiền 50.000.000 đồng; khi vợ chồng G nhờ bà Lã Thị D và ông Trần Đại L chứng kiến thì nói G vay (nợ) tiền bà N1, nay đem sang trả; khi viết Giấy biên nhận lại yêu cầu bà D viết “tháng 5/2023 bà N1 đã đưa cho ông Nguyễn Đình G, sinh năm 1968 số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) để lo việc đất cát... nay không dùng đến ông G trả lại cho bà N1 đủ số tiền 50.000.000đ”. Tại phiên tòa sơ thẩm tháng 10/2024, G cung cấp 01 Giấy biên nhận ngày 17/6/2023, không có nội dung “để lo việc đất cát” (G cho rằng, do bà D không hiểu ý đã viết sai nội dung nên các bên yêu cầu viết lại); G khai, lý do trả tiền là do bà N1 cho G nhưng không thoải mái nên G đem trả.
[2.5] Việc G nhận tiền của bà N1 và quá trình G đem trả lại tiền cho bà N1 cũng không thống nhất về lý do trả tiền vì bản gốc giấy trả tiền phải do người trả tiền giữ là G, bà N1 chỉ có bản photo nên mới xảy ra việc chỉ có bản photo giấy trả tiền có nội dung như bà N1 cung cấp. Lý do tại sao G đã trả tiền và hủy giấy biên nhận thì tại sao lại phải lập lại giấy biên nhận làm gì, nội dung giấy biên nhận lại thay đổi không có chữ “để lo việc đất cát”, mục đích để che dấu hành vi không có lợi cho G là chiếm đoạt tài sản của bà N1 và đã bị phát hiện, bà N1 có đơn tố cáo G, thể hiện lời khai của bà N1 trong hồ sơ G có “hành vi gian dối để lừa tôi đưa cho ông G số tiền 50.000.000 đồng”. Như vậy cần xác định lý do tại sao G không nộp tài liệu được viết sau cho Cơ quan điều tra để tổng hợp đánh giá, cần xem xét các hành vi trước đó của G đối với bà N1.
[2.6] Bị cáo cho rằng tại buổi làm việc ngày 08/5/2023 tại nhà bà N1, bà N1 tuyên bố với mọi người trong đoàn về việc ủy quyền cho Nguyễn Đình G làm việc với đoàn và nội dung Biên bản xác minh tại UBND thị trấn T của Luật sư thấy rằng: Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, tại giấy mời họp và Biên bản làm việc của Hội đồng bồi thường hỗ trợ tái định cư về việc tuyên truyền vận động thuyết phục hộ bà Hà Thị N1 và bà Nguyễn Thị Hoài S1 (con là Nguyễn Tuấn N3) ngày 08/5/2023 tại UBND thị trấn T có thành phần gồm: đại diện Hội đồng bồi thường; đại diện UBND thị trấn T (ông Hà Xuân T2, ông Đinh Văn N2, ông Nguyễn Huy L2); đại diện khu dân cư (ông Nguyễn Gia T5); bà Hà Thị N1 và bà Nguyễn Thị Hoài S1. Như vậy, thành phần buổi làm việc ngày 08/5/2023 không có ông Vương Chung T6 và không có G. Mặt khác, nội dung liên quan đến việc bị hại ủy quyền cho bị cáo tại buổi làm việc ngày 08/5/2023 tại nhà bà N1 không liên quan đến việc G gian dối để chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng của bị hại tại A. Do đó, lời khai của bị cáo và cung cấp của ông Vương Chung T6, trình bày của ông Hà Xuân T2, ông Đinh Văn N2 trong biên bản xác minh của các Luật sư không phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác. Do vậy tài liệu này không được xem xét đánh giá vì không khách quan.
[2.7] Bà N1 nhiều năm nay đi làm trông xe thuê tại Hà Nội, hoàn cảnh gia đình không dư giả gì, bà có 02 con hiện chưa ổn định về việc làm. Số tiền 50.000.000 đồng đối với bà N1 là một số tiền lớn. Do đó, việc G cho rằng bà N1 tự nguyện cho G 50.000.000 đồng để trả chi phí 1 lần thuê xe đi lại lo việc của bà N1 và để G chữa bệnh là không phù hợp so với hoàn cảnh hiện nay của bà N1.
[2.8] Quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Hoài S1 trình bày: Buổi chiều tối ngày 04/6/2023 bà S1 được nghe 02 cuộc điện thoại của G gọi cho bà N1 (do bà N1 mở loa ngoài), hai bên trao đổi về việc bà N1 đòi G trả số tiền 50.000.000 đồng và nghe thấy G nói số tiền 50.000.000 đồng là tiền chi phí G cảm ơn người trong hội đồng đền bù; G còn nói, nếu G trả lại tiền bà N1 phải cắt 25m² đất của bà N1 cho G. Khai thác điện thoại của G vào hồi 18 giờ 42 phút và 20 giờ 30 phút G có gọi điện thoại cho bà N1. Thời điểm này Cơ quan công an chưa làm việc với G, đến ngày 05/6/2023 Công an thị trấn T làm việc với G thì G không nhận bất cứ khoản tiền nào của bà N1, như vậy bà N1, bà S1 khai và cuộc điện thoại G gọi đến cho bà N1 mặc dù không ghi âm được, nhưng đây cũng là chứng cứ bổ trợ cho việc G thừa nhận có nhận tiền của bà N1 và nếu trả tiền thì phải có điều kiện khác là trả cho G đất.
[2.9] Về việc bị cáo cho rằng, giữa bị cáo và bà S1 có xảy ra va chạm, xích mích, cãi nhau vào khoảng tháng 5 hoặc tháng 6 năm 2022. Thấy rằng, ông Nguyễn Viết T7 (là tổ trưởng tổ 5), ông Nguyễn Gia T5 (là trưởng khu phố V) đều xác định không nghe được thông tin hay chứng kiến Nguyễn Đình G có mâu thuẫn với ai trong khu dân cư. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 66 của BLTTHS thì bà Nguyễn Thị Hoài S1 không thuộc trường hợp những người không được làm chứng. Do đó, việc bị cáo, Người bào chữa cho rằng lời khai của bà S1 là không khách quan do giữa bị cáo và bà S1 đã từng có mâu thuẫn là không có căn cứ.
[2.10] Ông Nguyễn Gia T5 là trưởng khu phố V trình bày: Khoảng cuối tháng 5, đầu tháng 6 năm 2023 ông T5 được nghe bà S1 nói chuyện việc bà N1 đưa cho G 50.000.000 đồng để đi bồi dưỡng cán bộ giải phóng mặt bằng. Tại yêu cầu xác minh thông tin ngày 04/6/2023 của Bí thư Đảng ủy thị trấn T, ông Vương Chung T6 thể hiện: ông T6 nắm bắt được thông tin về việc bà N1 được Nguyễn Đình G yêu cầu đưa số tiền 50.000.000 đồng để làm quà, cảm ơn cho các thành viên trong tổ công tác thực hiện việc đền bù giải phóng mặt bằng vì đã tạo điều kiện để gia đình bà N1 nhận số tiền 650.800.000 đồng, đề nghị Công an khẩn trương xác minh.
[3] Như vậy, việc G cho rằng ngày 15/5/2023 bà N1 cho G 50.000.000 đồng là bà N1 tự nguyện cho để cảm ơn G vì đã tư vấn pháp luật đất đai, chi phí đưa bà N1 đi lại làm thủ tục nhận tiền đền bù và bà N1 cho G tiền để đi chữa bệnh là không có căn cứ và không phù hợp. Lời khai của bà N1 thống nhất và đều khẳng định G yêu cầu bà N1 phải cho G 50.000.000 đồng để G cảm ơn 8 người trong Ban giải phóng mặt bằng; các thành viên trong Hội đồng giải phóng mặt bằng đều khẳng định, không nhận tiền từ G.
[4] Sự việc xảy ra ngày 15/5/2023 G lấy tiền của bà N1 50.000.000 đồng, ngày 17/6/2023 G đã trả cho bà N1 số tiền 50.000.000 đồng. Ngày 29/6/2023 bà N1 có đơn trình báo tố giác hành vi của G với Công an thị trấn T. Như phân tích ở trên có đủ cơ sở khẳng định hành vi của Nguyễn Đình G là có ý thức chiếm đoạt tài sản của bà N1 khi bà N1 nhận được tiền đền bù, bởi các hành vi: Quá trình tư vấn cho bà N1, bị cáo đi cùng và thấy bà N1 đến UBND huyện T nhận tiền đền bù, chở bà N1 về Ngân hàng gửi tiền tiết kiệm, tại đây G dùng thủ đoạn gian dối là nói dối bà N1 là G đã nhờ các cán bộ trong ban đền bù giúp đỡ bà N1 để bà N1 tin tưởng và có sự giúp sức của G nên bà N1 mới nhận được số tiền đền bù là 650.800.000 đồng như vậy và G cần phải cảm ơn những người đó nên bà N1 đã giao tiền và G chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng ngày 15/5/2023 tại A mục đích sử dụng chi tiêu hết mà không gặp gỡ và trao đổi với ai trong ban đền bù. Sau khi bà N1 biết được G gian dối để chiếm đoạt tiền của bà nên đã đòi nhiều lần và chính quyền địa phương phát hiện có dư luận đã đề nghị Công an xác minh điều tra, nên đến ngày 17/6/2023 G đã trả cho bà N1 số tiền 50.000.000 đồng. Thấy rằng mặc dù bà N1 đã nhận được tiền do G trả trước khi bà N1 tố giác, nhưng vụ án này không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại mà chỉ là yếu tố xem xét khi quyết định hình phạt.
[5] Bị cáo thực hiện hành vi trong trạng thái tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự.
[6] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình G kháng cáo và đề nghị tuyên bị cáo không phạm tội, bị cáo bị oan. Thấy rằng: Hội đồng xét xử sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên phạt bị cáo mức án 02 (Hai) năm tù là phù hợp, đúng pháp luật, bảo đảm mục đích của hình phạt là trừng trị đồng thời giáo dục bị cáo và răn đe, làm gương cho những người khác. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không đưa ra được căn cứ, tình tiết nào mới để đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
[8] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 345; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình G. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình G 02 (Hai) năm tù. Bị cáo được trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/10/2023 đến ngày 29/5/2024. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về án phí hình sự phúc thẩm : Buộc bị cáo Nguyễn Đình G phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |
Bản án số 16/2025/HS-PT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 16/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lời khai của bị hại, từ ban đầu và trong quá trình điều tra đều khẳng định ngày 15/5/2023 tại Agribank Thanh Sơn, Giang yêu cầu bà Nga phải đưa cho Giang số tiền 50.000.000 đồng để Giang đi chi bồi dưỡng, cảm ơn cho các cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng (gồm 08 người) ở thị trấn và huyện Thanh Sơn vì lý do nếu Giang không có ý kiến và nhờ những người này từ trước thì gia đình bà Nga sẽ không được nhận số tiền bồi thường như vậy. Do quá trình tư vấn, viết đơn Giang đã giúp bà Nga trong việc liên quan đến bồi thường đất. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo và bà Nga đều khẳng định không có sự thỏa thuận về việc bà Nga sẽ trả công cho bị cáo Giang nếu được tăng mức tiền đền bù. Lúc đầu bà Nga chưa đồng ý giao tiền, hai bên trao đổi khoảng 15 - 20 phút thì bà Nga tin tưởng việc bà nhận được số tiền như trên là do có sự tác động của Giang nên đã đồng ý để Giang lấy 50.000.000 đồng bà Nga đang gửi trong cốp xe mô tô của Giang mục đích là để cảm ơn các cán bộ trong Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng. Như vậy Giang đã nói dối bà Nga là phải cảm ơn cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng nhằm chiếm đoạt số tiền trên của bà Nga, đây là hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt số tiền 50.000.000đ của bà Nga.
