Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN MÔ

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày 27-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Minh Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Cung - nguyên giáo viên.

Bà Trần Thị Mão - cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Việt Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên tòa: bà Đào Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Văn N, sinh ngày 08 tháng 9 năm 1999 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2017/HSST ngày 24/07/2017 Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Phạm Văn N 03 năm tù về tội “Giết người” (chưa đạt) (chấp hành xong ngày 15/07/2019); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn N:

- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977 (là mẹ của bị cáo); nơi cư trú: xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1974 (là bố của bị cáo); nơi cư trú: xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Văn Q: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; nơi cư trú: xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 30/11/2024).

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn N: bà Đoàn Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

1

Bị hại:

- Bà Phạm Thị S, sinh năm 1963; nơi cư trú: xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Anh Phạm Văn C, sinh năm 1988; nơi cư trú: Xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của anh Phạm Văn C: bà Phạm Thị S, sinh năm 1963; nơi cư trú: xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 30/11/2024).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 14/10/2024 Phạm Văn N đến nhà bà Phạm Thị S sinh năm 1963 ở xóm T, xã Y, huyện Y, Ninh Bình để xin rau khi đến N thấy có một mình bà S đang ở nhà, N hỏi xin bà S ít rau, bà S bảo N đợi để bà S đi ra vườn hái rau cho N. Trong lúc đứng ở sân bà S đang hái rau ở vườn, N thấy trong nhà không có ai và bà S không quan sát được phía trong nhà, N nảy sinh ý định vào trong nhà bà S tìm tài sản có giá trị để trộm cắp, N đi qua phòng bếp, rồi qua phòng khách đi vào phòng ngủ của bà S (phòng bếp thông với phòng khách, phòng ngủ). Trong phòng ngủ, N thấy chiếc tủ đứng làm bằng gỗ kê ở góc tường, loại tủ có 2 ngăn, 1 ngăn đơn gồm 1 cánh có ổ khóa, còn ngăn đôi gồm 2 cánh không có ổ khóa, N đi đến dùng tay mở 2 cánh tủ không có ổ khóa ở ngăn đôi ra thì thấy trong tủ có treo nhiều quần áo, phía dưới quần áo có để hộp khẩu trang, bên trong có chùm chìa khóa có 3 chiếc chìa khóa trong đó có chìa khóa của ngăn tủ cánh đơn, N đã lấy chùm chìa khóa chọn chiếc khóa to nhất cầm ở tay phải cắm vào ổ khóa và mở cánh tủ ngăn đơn, sau khi mở cánh tủ, N thấy tại ngăn tủ giữa (Tủ có 03 ngăn) có chiếc chăn bông rơi ra ngoài để lộ chiếc hộp kim loại, kích thước (19 x 12 x 8)cm màu vàng đỏ, trên bề mặt hộp có dòng chữ “GOLD KORE 1200”, N cầm lấy chiếc hộp, tay trái cầm hộp, tay phải mở nắp hộp kiểm tra bên trong hộp có một túi nilon màu vàng kích thước (34 x 30 x 24)cm được gấp gọn lại, N mở túi nilon ra kiểm tra thì thấy trong túi nilon có số tiền 42.000.000 đồng, N lấy số tiền trên để dưới nền nhà, rồi gấp gọn túi nilon như cũ để vào trong hộp kim loại nêu trên, đậy nắp hộp và để lại trong chăn bông rồi đặt lại trong tủ. Sau đó N thấy ngăn tủ phía trên cùng có một chiếc túi xách màu đen kích thước (30 x 20 x 10)cm, N cầm chiếc túi xách, tay phải kéo khóa mở túi xách kiểm tra thì thấy bên trong túi xách có chiếc ví màu kẻ sọc xanh đen kích thước (12 x 8)cm, N cầm lấy chiếc ví mở ra kiểm tra thì thấy có số tiền 1.700.000 đồng, N lấy số tiền này rồi để chiếc ví lại trong chiếc túi xách để trong tủ và đóng cánh tủ lại, sau đó khóa tủ lại, N rút chìa khóa để lại trong hộp khẩu trang như ban đầu. Sau khi lấy trộm được số tiền 43.700.000 đồng nêu trên, N cất giấu trong người rồi đi ra ngoài sân nhà bà S đứng đợi bà S hái rau,

một lúc sau bà S đem rau vào thì N cầm lấy rau rồi đi về nhà, đem số tiền 43.700.000 đồng đã lấy trộm của bà S cất giấu tại phòng ngủ của N.

Đến khoảng 09 giờ ngày 15/11/2024, khi bà S mở tủ kiểm tra số tiền cất trong chiếc ví để trong chiếc túi xách màu đen nêu trên thì bà S phát hiện bị mất số tiền 1.700.000 đồng, bà S tiếp tục kiểm tra số tiền 42.000.000 đồng mà bà S đã cất trong chiếc túi nilon màu vàng để trong hộp kim loại trên thì cũng thấy bị mất. Sau khi bà S phát hiện bị mất số tiền 43.700.000 đồng thì bà S đã đến cơ quan CSĐT Công an huyện Y trình báo sự việc.

Phạm Văn N thấy hành vi trộm cắp số tiền 43.700.000 đồng của bà S ngày 14/10/2024 của N không thể che giấu nên đến chiều tối ngày 15/11/2024 N đã trả lại toàn bộ số tiền này cho bà Phạm Thị S. Quá trình điều tra bị can Phạm Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 05/12/2024 cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 745, trưng cầu V giám định tâm thần đối với Phạm Văn N.

Tại bản kết luận giám định số 26/GĐTT ngày 23 tháng 01 năm 2025 của V kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 14/10/2024 và tại thời điểm giám định bị can Phạm Văn N bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F70. Tại các thời điểm trên, bị can N hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 21 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố được công bố tại Cáo trạng nêu trên. Sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, q, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn N từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án ngày 27 tháng 3 năm 2025. Về phần trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã trả lại cho bà S số tiền 43.700.000 đồng, bà S không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Văn N. Bị cáo là người khuyết tật nặng nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn N trình bày: Về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình truy tố đối với bị cáo Phạm Văn Nghĩa L đúng người, đúng tội. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo luôn tỏ thái độ ân hận, ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi

trộm cắp tài sản bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo là người khuyết tật nặng. Bị cáo đã trả lại số tiền cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên khi quyết định hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

- Bà Nguyễn Thị H là người đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: sau khi thực hiện hành vi phạm tội, N đã kể chuyện trộm cắp số tiền 43.700.000 đồng của bà Phạm Thị S ở cùng xóm, khi biết hành vi trên không thể che giấu, N và gia đình đã đến nhà bà S trả lại số tiền 43.700.000 đồng. N từ bé đã chậm phát triển hơn so với các bạn cùng trang lứa, bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi dẫn đến thực hiện hành vi trộm cắp, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho N.

- Bà Phạm Thị S là bị hại, đồng thời là người đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Phạm Văn C trình bày: N trộm cắp số tiền 43.700.000 đồng, bị cáo và gia đình đã đến gặp và trả cho bà S số tiền 43.700.000 đồng, bà S đã giao nộp cho cơ quan điều tra làm căn cứ giải quyết, sau đó cơ quan điều tra đã trả lại số tiền trên cho bà, bà S không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo thấy hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi, tội danh của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của bị hại, vật chứng đã thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở khẳng định: vào hồi 17 giờ ngày 14/10/2024, tại gia đình bà Phạm Thị S thuộc thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, Phạm Văn N đã có hành vi lén lút lấy trộm trong ngăn tủ ở phòng ngủ số tiền 43.700.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Phạm Văn N đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

“Điều 173: Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

...”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Văn N với tội danh và các điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, tác động xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Căn cứ vào tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nhận thấy:

Nhân thân: bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã xử phạt 03 năm tù về tội “Giết người” (chưa đạt) theo bản án hình sự sơ thẩm số 19/2017/HSST ngày 24/07/2017 chấp hành xong ngày 15/07/2019.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và gia đình đã tự nguyện khắc phục hậu quả, tài sản trộm cắp đã được thu hồi toàn bộ và trả lại cho chủ sở hữu, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bản thân bị cáo là người khuyết tật nặng, bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, bố bị cáo đang bị bệnh phải điều trị dài ngày tại Bệnh viện, sức khỏe yếu, gia đình có hoàn cảnh khó khăn là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng khi lượng hình.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mặc dù đã bị kết án nhưng được xóa án tích, mức độ của tội phạm mới thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ nghiêm, có tác dụng răn đe,

giáo dục, đồng thời tạo điều kiện để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

[4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 Một chiếc hộp kim loại, kích thước (19x12x8)cm màu vàng đỏ, trên bề mặt hộp có dòng chữ “GOLD KORE 1200”; Một túi nilon màu vàng kích thước (34 x 30 x 24)cm; Một túi xách màu đen kích thước (30 x 20 x 10)cm; Một chiếc ví màu kẻ sọc xanh, đen kích thước (12 x 8)cm. Do toàn bộ vật chứng trên không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ tài sản trên cho chủ sở hữu là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra bị hại đã nhận lại toàn bộ số tiền 43.700.000 đồng bị cáo trộm cắp và không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Xét đề nghị của người bào chữa về việc xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: bị cáo tuy có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuy nhiên bị cáo bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự với khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, số tiền làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là 43.700.000 đồng gần với mức cao nhất với giá trị làm căn cứ định khung hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị trên của người bào chữa.

[7] Luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời bào chữa của người bào chữa tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: bị cáo là người khuyết tật nặng nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án ngày 27 tháng 3 năm 2025.

Giao bị cáo Phạm Văn N cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo Phạm Văn N có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Văn N.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình: 01 bản;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình: 01 bản;
  • - VKSND huyện Yên Mô: 02 bản;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Mô: 01 bản;
  • - Phòng HSNV-CA tỉnh Ninh Bình: 01 bản;
  • - Bị cáo: 01 bản;
  • - Bị hại: 02 bản;
  • - Người bào chữa: 01 bản;
  • - Lưu hồ sơ: 02 bản;
  • - Lưu tòa: 01 bản;
  • (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Minh Hồng

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn N - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger