Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHƯỚC LONG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày 24 – 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Bân
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Phước
  • Bà Vũ Thị Lựu

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Vui – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Vinh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 21 và 24 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Thụy Ngọc P, sinh năm 1990 tại Bình Phước;

Nơi cư trú: khu phố A, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hoá (học vấn) 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); Có chồng là Trần D, sinh năm 1986 và 02 người con, sinh năm 2015 và sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/11/2024 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Đỗ Thị P1, sinh năm 1965, trú tại: Khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước. (có mặt)

Chị Trần Ngọc T, sinh năm 1986, trú tại: Khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26/04/2023, Trần Thụy Ngọc P đến nhà bà Đỗ Thị P1 vay 200.000.000 đồng với lãi suất thỏa thuận là 2.700 đồng/01triệu/01ngày và để lại 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY340615 mang tên Trần Ngọc T; Năm sinh: 1986; Nơi thường trú: Khu phố P, P, P, Bình Phước (chị gái ruột của P) để làm tin. Đến khoảng tháng 10/2023, chị Trần Ngọc T gọi điện cho P lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên để làm thủ tục vay tiền ngân hàng. Do chưa có tiền trả cho bà P1 để lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về trả cho T nên P lên mạng G tìm thông tin làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đổi giấy thật đang để chỗ bà P1 làm tin về trả cho T. P gọi điện và nói chuyện với một người đàn ông (không rõ lai lịch) đặt làm 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả thì người đàn ông báo giá 8.000.000 đồng, sau đó P gửi thông tin trên Giấy chứng nhận cho người đàn ông này. Khoảng 01 tuần sau, có 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) gọi điện cho P giao 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi kiểm tra đúng thông tin, P trả tiền mặt cho người giao hàng 8.000.000 đồng. Ngày hôm sau, P vào gặp bà P1, P nói bà P1 cho mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp đi photo thì bà P1 đưa cho P. Khi ra ngoài đường, P liền đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng thật rồi P quay lại đưa giấy giả cho bà P1.

Đến ngày 10/02/2024, bà P1 tiếp tục cho P mượn thêm 150.000.000 đồng với lãi suất 2.700 đồng/01triệu/01ngày. Đến ngày 24/02/2024 bà P1 phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này là giả. Đến cuối tháng 02/2024 bà P1 đã yêu cầu P viết giấy mượn tiền cho bà P1. Sau đó P yêu cầu bà P1 cho xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp thì bà P1 nói “đã mang đi cầm cho người khác với giá 20.000.000 đồng, P muốn xem thì chuyển cho bà P1 20.000.000 đồng và 1.000.000 đồng tiền lãi”. Khoảng tháng 3/2024 P chuyển trả 24.000.000 đồng cho bà P1 để xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nhưng bà P1 không cho xem. Đến khoảng tháng 4/2024 P tiếp tục chuyển trả thêm 26.000.000 đồng và đến tháng 5/2024 thì chuyển trả 2.000.000 đồng nhưng P vẫn không được bà P1 cho xem giấy giả đã đưa cho bà P1. Ngày 03/07/2024, bà P1 làm đơn trình báo sự việc đến Công an phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã ra quyết định trưng cầu giám định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY340615 thu giữ trên. Tại kết luận giám định số: 858/KL-KTHS ngày 04/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • - Các lớp in trên “GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT” gửi giám định ký hiệu A so với các lớp in tương ứng trên mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 không cùng phương pháp in.
  • - Hình dấu tròn nội dung “CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM ★ TỈNH BÌNH PHƯỚC • SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG” trên mẫu cần giám định ký hiệu A không phải do con dấu có hình dấu mẫu trên tài liệu ký hiệu M3-M11 đóng ra.
  • - Chữ ký mang họ tên Lê Văn N1 dưới mục “PHÓ GIÁM ĐỐC VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI TỈNH BÌNH PHƯỚC” trên mẫu so sánh ký hiệu M12-M19 không phải do cùng một người ký ra.

Quá trình điều tra, Trần Thụy Ngọc P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Ngày 11/11/2024, bị cáo P bị khởi tố bị can để điều tra.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSPL ngày 24/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố Trần Thụy Ngọc P về “Tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo P về T1 sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 341; Điều 65; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuyên bị cáo P2 phạm Tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và xử phạt bị cáo P từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng.

Vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động mà bị cáo P sử dụng để đặt làm sổ giả, quá trình điều tra xác định P đã bán chiếc điện thoại trên cho một người không rõ nhân thân lai lịch, không thu hồi được nên không đề cập xử lý.

Trách nhiệm dân sự: Tổng số tiền bà P1 cho P mượn là 350.000.000 đồng tiền gốc, không tính lãi. P đã trả cho bà P1 202.000.000 đồng. Số tiền còn lại bà P1 và P thỏa thuận cho P trả dần hàng tháng cho đến khi hết nợ, trong vụ án này bà P1, bà T không có yêu cầu gì nên không giải quyết.

- Bị cáo tự bào chữa: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét toàn bộ diễn biến sự việc cũng như hoàn cảnh, lý do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Hành vi phạm tội của bị cáo phát sinh từ sự thiếu hiểu biết, khi lâm vào hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thanh toán khoản nợ nên mới thực hiện hành vi phạm tội nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được ở ngoài chăm sóc hai con và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định trong quá trình điều tra, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 26/4/2023, bị cáo Trần Thụy Ngọc P có vay của bà Đỗ Thị P1 với tổng số tiền 200.000.000 đồng và đưa cho bà P1 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY340615 mang tên Trần Ngọc T để làm tin. Sau đó, chị Trần Ngọc T đòi P giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên để đi vay Ngân hàng, do chưa có khả năng thanh toán số nợ trên cho bà P1 nên P đã đặt làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phát hành số BY 340615 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 09/04/2021 để đánh tráo với giấy thật bà P1 đang giữ nhằm mục đích để bà P1 tiếp tục cho P gia hạn số nợ. Đến ngày 03/7/2024, do nghi ngờ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên mà P đưa có dấu hiệu bị làm giả nên bà P1 đã trình báo lên Cơ quan Công an để giải quyết.

Bị cáo P là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, sự hoạt động đúng đắn, bình thường và uy tín của cơ quan Nhà nước trong quản lý hành chính. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành Tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; Viện kiểm sát truy tố và luận tội bị cáo theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy, khi vay 200 triệu đồng của bà P1 thì bị cáo P sử dụng giấy chứng nhận thật, sau đó P mới đặt làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để đánh đổi, mục đích của hành vi của bị cáo là để trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị T, không phải để chiếm đoạt tiền đã vay của bà P1 mà nhằm mục đích để bà P1 tiếp tục cho P gia hạn số nợ. Mặt khác, sau khoản vay 200.000.000 đồng thì bà P1 còn cho P vay thêm nhiều khoản vay khác và P vẫn trả lãi hàng tháng cho bà P1. Do đó, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không khởi tố bị cáo tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có căn cứ.

[3] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo P có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; hiện bị cáo đang nuôi hai con nhỏ, bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo và không thuộc những trường hợp không cho hưởng án treo theo quy định. Việc bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên không cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Vì vậy, căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật hình sự, áp dụng hình phạt tù có điều kiện cho bị cáo P hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động mà P sử dụng để đặt làm sổ giả, quá trình điều tra xác định P đã bán chiếc điện thoại trên cho một người không rõ nhân thân lai lịch, không thu hồi được nên không đề cập xử lý.

[7] Trách nhiệm dân sự: Bà P1, bà T không có yêu cầu gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[8] Đối với hành vi cho vay tính lãi đối với khoản vay 200.000.000 đồng giữa bà P1 và P, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã P đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với bà P1 theo theo điểm đ, khoản 4 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự của Chính phủ là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xử lý.

[9] Đối với đối tượng đã làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho P là người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý, đề nghị cơ quan điều tra có thẩm quyền tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[10] Quan điểm của Viện kiểm sát, về tội danh, hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thụy Ngọc P phạm “Tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 50, Điều 65 của Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP

Xử phạt bị cáo Trần Thụy Ngọc P 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/3/2025).

Giao bị cáo P về Ủy ban nhân dân phường phước B, thị xã P, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (24/03/2025), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Phước Long;
  • - PV06, PC 10 - CA tỉnh Bình Phước;
  • - Phân trại tạm giam khu vực TX. Phước Long;
  • - Chi cục THADS thị xã Phước Long;
  • - TT lý lịch Tư pháp – Sở tư pháp Tỉnh Bình Phước;
  • - Bị cáo; Người CQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VT Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Bân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: rần Thuỵ Ngọc Phương phạm tội sử dụng tài liệu, con dấu giả của cơ quan tổ chức
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger