|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HS-ST
Ngày: 21-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Thanh Yên
Bà Phan Thị Hải Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận
Nam, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận tham gia
phiên tòa: Bà Hồ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, điểm cầu trung tâm tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận; Điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm giam khu vực T, phòng PC 11, Công an tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Văn T (Tuấn T1), sinh ngày: 20/02/1995, tại Ninh Thuận. Nơi đăng ký HKTT:
Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Đi biển; trình độ văn hóa:
5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Lê Văn X, sinh năm 1966 và bà Hồ Thị L, sinh năm 1965; gia đình bị cáo có 05 anh
em, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất, sinh năm 2001, bị cáo là con thứ 3 trong gia
đình; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/11/2024, tạm giam ngày 11/11/2024. Hiện đang tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực T, Phòng PC 11, Công an tỉnh N (Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn L1, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ, ngày 03/11/2024, do có nhu câu sử dụng ma túy nên Lê Văn T hỏi xin mua ma túy và dụng cụ sử dụng là 01 nỏ thủy tinh từ một người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) ở khu vực cảng M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, đổi lại T cho người thanh niên kia 01 giỏ cá nục. Khoảng 07 giờ ngày 05/11/2024, ghe mà T đi biển cập cảng C, T mang theo ma túy và dụng cụ sử dụng trên về nhà và lấy một ít sử dụng, số còn lại T cất giấu. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, màu đen xanh, biển kiểm soát 85C1-131.62 mang theo số ma túy còn lại cất ở bao thuốc Jet cùng bịch nilon chứa nỏ thủy tinh và quẹt ga vào giỏ nhựa trước đầu xe rồi đi tìm địa điểm sử dụng ma túy. Khi đi đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn L, xã P thì T bị tổ tuần tra Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành thử nước tiểu với thanh thử loại Fastep đối với Lê Văn T, kết quả T dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định số 276/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh N xác định: Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2153g (không phẩy, hai một năm ba gam). Nỏ thủy tinh màu trắng đen (ký hiệu M2) gửi đến giám định không xác định được khối lượng nên không tiến hành giám định.
* Vật chứng và xử lý vật chứng:
- - Thu giữ 01 (một) túi nilon trong suốt, kích thước (4,8x1,1)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) nỏ thủy tinh màu trắng đen, một đầu hình cầu, được uống cong, đường kính 1,5cm, một đầu được gắn với một đoạn ống hút nhựa màu trắng, kích thước (6,5x0,6)cm; 01 (một) quẹt ga màu đỏ, kích thước (7,5x2,8)cm được bỏ vào phong bì chưa sử dụng của Công an xã P, niêm phong có chữ ký của Lê Văn L2, Não Phạm Thành T2, Lê Văn T, Nguyễn Văn S và đóng dấu tròn của Công an xã P.
- - Sau khi gửi đi giám định và nhận hoàn lại 01 (một) phong bì dán kín, đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh N, có chữ ký ghi họ tên của Nguyễn Nghi A, Đoàn Văn C, Nguyễn Lê Đức N, Dương Thành N1, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định gồm: M1 là 0,1541g (không phẩy, một năm bốn một gam) và 01 (một) nỏ thủy tinh theo Kết luật giám định số 276/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh N. Hiện vật chứng đang bảo quản tại Kho vật chứng công an huyện T.
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu đen xanh, biển kiểm soát 85C1-131.62, số máy: 5C6K045257, số khung: RLCS5C6K0DY045248. Đây là tài sản của Lê Văn L1 (anh trai T), L1 không biết T dùng xe mô tô để mang ma túy đi sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại xe mô tô trên cho anh L1.
Tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKSTN ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Lê Văn T (Tuấn T1) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;
- * Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T (Tuấn T1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn T (Tuấn T1) từ 16 (mười sáu) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
- * Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T (Tuấn T1) khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, bị cáo không tranh luận, nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn L1. Xét thấy, anh L1 đã có lời khai rõ ràng tại Cơ quan điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của anh L1 không ảnh hưởng tới việc xét xử bị cáo, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, vẫn tiến hành xét xử.
- Xác định tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tôi quả tang, biên bản khám xét, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu, kết luận giám định, lời khai nhận của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định:
Khoảng 16 giờ, 00 phút, ngày 05/11/2024, trên tuyến đường liên thôn thuộc thôn L, xã P, huyện T, tổ tuần tra Công an huyện T phát hiện Lê Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, với tổng khối lượng 0,2153g (không phẩy, hai một năm ba gam).
Xét lời nhận tội của bị cáo Lê Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp các chứng cứ khác được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam truy tố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Quyết định hình phạt, mức hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu được tác hại của ma túy và sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng do bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước và tiếp tay cho những đối tượng buôn bán ma túy lớn hoạt động, gây mất an ninh trật tự xã hội và vi phạm pháp luật hình sự nên cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Lê Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với chiếc xe mô tô kiểu dáng nhãn hiệu YAMAHA màu đen xanh, biển kiểm soát 85C1-131.62, số máy: 5C6K045257, số khung: RLCS5C6K0DY045248. Đây là tài sản của anh Lê Văn L1 (anh trai T), anh L1 không biết T dùng xe mô tô để mang ma túy đi sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại xe mô tô trên cho anh L1 là có căn cứ nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì dán kín, đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh N, có chữ ký ghi họ tên của Nguyễn Nghi A, Đoàn Văn C, Nguyễn Lê Đức N, Dương Thành N1, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định gồm: M1 là 0,1541g (không phẩy, một năm bốn một gam) và 01 (một) nỏ thủy tinh theo Kết luật giám định số 276/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh N; 01 (một) quẹt ga màu đỏ, kích thước (7,5x2,8)cm, được niêm phong có dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Ninh Thuận và họ tên của Lê Văn L2, Lê Văn T. Xét thấy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T (Tuấn T1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T (Tuấn T1) 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 05/11/2024).
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) phong bì dán kín, đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh N, có chữ ký ghi họ tên của Nguyễn Nghi A, Đoàn Văn C, Nguyễn Lê Đức N, Dương Thành N1, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định gồm: M1 là 0,1541g (không phẩy, một năm bốn một gam) và
- + 01 (một) nỏ thủy tinh theo Kết luật giám định số 276/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh N;
- + 01 (một) quẹt ga màu đỏ, kích thước (7,5x2,8)cm, được niêm phong có dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Ninh Thuận và họ tên của Lê Văn L2, Lê Văn T.
Toàn bộ vật chứng hiện đang bảo quản tại Kho của chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận theo phiếu nhập kho số PNK2025/17 ngày 23/01/2025.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lê Văn T (T) phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Khánh Hưng |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
