|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/HS-ST
Ngày: 20 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Sở
Ông Phạm Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An
tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D; giới tính: Nam; sinh năm: 1993 tại Yên Bái; nghề
nghiệp: Không; hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1956; con bà: Nguyễn Thị P, sinh năm 1956; tiền án: Ngày 01/02/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương tuyên phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 16/2016/HSST, chấp hành xong án phạt tù năm 2016; ngày 24/10/2022 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 02 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án số 200/2022/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 01/7/2024; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 21/11/2024 cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
- Chị Võ Kim T, sinh năm 1979 (vắng mặt);
- Chị Võ Thị T1, sinh năm 1979 (vắng mặt);
- Anh Lê Kim T2, sinh năm 1977 (vắng mặt);
- Chị Phùng Hồng N, sinh năm 1982 (vắng mặt);
- Chị Nguyễn Thị Kim P1, sinh năm 1984 (vắng mặt);
- Chị Huỳnh Thị Ngọc N1, sinh năm 1986 (vắng mặt);
- Chị Bùi Thị Đ, sinh năm 1984 (vắng mặt);
- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1970 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp F, Kênh H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp Ô, xã V, huyện V, tỉnh Long An.
2
Địa chỉ: Số E P, Phường G, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số B ấp B, xã L, thành phố T, tỉnh Long An.
Địa chỉ: ấp X, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Địa chỉ: Ấp C, xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Ấp G, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 30/10/2024, Nguyễn Văn D điều khiển xe mô tô hiệu ATTILA màu đỏ, biển số 60Y2-4353 đi từ thành phố Hồ Chí Minh đến Bệnh viện đa khoa tỉnh L mục đích vào phòng của bệnh nhân tìm tài sản để trộm, khoảng 02 giờ 30 phút D để xe ở khu vực Khoa Cấp cứu, sau đó lần lượt đi đến các phòng 404A1 lấy 01 điện thoại hiệu OPPO A58 của chị Võ Kim T; Phòng 304A1 lấy 01 điện thoại hiệu OPPO A54 của chị Võ Thị T1; Phòng 302A3 lấy 01 điện thoại hiệu ViVo Y22S có 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 100.000 đồng sau ốp điện thoại của anh Lê Kim T2, 01 điện thoại hiệu Samsung A34 của anh Phùng Hồng N. Sau đó bị cáo quay ra khu vực K Cấp cứu lấy xe mô tô điều khiển về thành phố Hồ Chí Minh bán 04 (bốn) điện thoại cho 01 cửa hàng không rõ địa chỉ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh với giá 4.800.000 đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Số tiền có được, bị cáo tiêu xài cá nhân hiện còn lại 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Đến ngày 21/11/2024, bị cáo D bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 phát hiện và mời làm việc.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận khoảng 01 giờ 00 ngày 30/10/2024, bị cáo vào Bệnh viện huyện C và đi bộ vào bên trong khu vực hành lang đến Phòng 3A lấy 01 điện thoại hiệu Samsung A51 của chị Nguyễn Thị Kim P1; Phòng C0024 lấy 01 điện thoại hiệu OPPO A55 của chị Huỳnh Thị Ngọc N1; Phòng C211 lấy 01 điện thoại hiệu Samsung A12 của chị Bùi Thị Đ; Phòng B220 lấy 3.500.000 đồng của anh Nguyễn Văn T3. Sau đó bị cáo D điều khiển xe ra khỏi bệnh viện và chạy thẳng đến khu vực thành phố T, tỉnh Long An để tiếp tục chuẩn bị thực hiện trộm tại Bệnh Viện Đ. Riêng 03 điện thoại di động mà bị cáo trộm tại Bệnh viện huyện C đã bán cho cửa hàng ở tỉnh Đồng Nai (không nhớ tên cửa hàng và địa chỉ) được số tiền 3.150.000 đồng (ba triệu
3
một trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền bán được điện thoại và số tiền trộm 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) bị cáo tiêu xài cá nhân hết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T4, tỉnh Long An đã thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, thành phố Hồ Chí Minh khởi tố và nhập vụ án theo quy định.
Kết quả trưng cầu giám định:
Tại Kết luận định giá tài sản số 154/KL-HĐĐGTS ngày 07/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, tỉnh Long An đã xác định:
- 01 (Một) chiếc điện thoại hiệu OPPO A58 đã qua sử dụng có giá 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm ngàn đồng).
- 01 (Một) chiếc điện thoại hiệu OPPO A54 đã qua sử dụng có giá 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng).
- 01 (Một) chiếc điện thoại hiệu VIVO Y22S đã qua sử dụng có giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
- 01(Một) chiếc điện thoại hiệu SamSung A34 đã qua sử dụng có giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Tại Kết luận định giá tài sản số 152/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện C, TP ., đã xác định:
- 01 (Một) chiếc điện thoại hiệu SamSung A51 đã qua sử dụng có giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
- 01 (Một) chiếc điện thoại hiệu OPPO A55 đã qua sử dụng có giá 2.000.000 đồng(hai triệu đồng).
- 01 (Một) chiếc điện thoại hiệu SamSung A12 đã qua sử dụng có giá 2.000.000 đồng(hai triệu đồng).
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T4, bị cáo Nguyễn Văn D đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản và thừa nhận hình ảnh do camera của Bệnh viện Đ và Bệnh viện huyện C ghi nhận lại chính là bị cáo Nguyễn Văn D. Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn D phù hợp với lời khai của người bị hại, người chứng kiến và diễn biến nội dung sự việc xảy ra.
Quá trình điều tra xác định bị cáo Nguyễn Văn D có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩu khai báo. Tình tiết tăng nặng: phạm tội 02 lần trở lên.
Tài liệu, đồ vật bị thu giữ: 01 (một) áo khoác màu xanh; 01 (một) quần jean màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, 01 (một) đôi dép quai ngang màu đen; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu ATTILA màu đỏ, biển số 60Y2-4353; tiền Việt Nam 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) .
Việc xử lý vật chứng:
4
Xe mô tô nhãn hiệu ATTILA màu đỏ, biển số 60Y2-4353, đã qua sử dụng do bị cáo D mua lại vào khoảng tháng 08/2024 với giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) tại tiệm sửa xe không nhớ bảng hiệu, địa chỉ, không làm giấy mua bán xe.
Đồ vật tài liệu còn lại chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An gồm: 01 (một) áo khoác màu xanh; 01 (một) quần jean màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, 01 (một) đôi dép quai ngang màu đen, tiền Việt Nam 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại gồm Võ Kim T, Võ Thị T1, Lê Kim T2, Phùng Hồng N, Nguyễn Thị Kim P1, Huỳnh Thị Ngọc N1, Bùi Thị Đ, Nguyễn Văn T3 yêu cầu bồi thường tổng cộng 20.300.000 đồng (hai mươi triệu ba trăm ngàn đồng). Bị cáo D đã bồi thường xong.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKSTA-HS ngày 02 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà Nguyễn Văn D gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn D, mức hình phạt từ 03 năm đến 04 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về vật chứng: 01 (một) áo khoác màu xanh; 01 (một) quần jean màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, 01 (một) đôi dép quai ngang màu đen cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền Việt Nam 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan
5
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn D tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với lời khai của bị hại cùng với bản kết luận về định giá tài sản số 154/KL-HĐĐGTS ngày 07/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, tỉnh Long An và kết luận định giá tài sản số 152/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Thấy rằng, khoảng 01 giờ 00 phút ngày 30/10/2024, tại Bệnh viện huyện C, bị cáo D đã trộm 03 điện thoại di động trị giá 7.000.000 đồng và 3.500.000 đồng trong phòng bệnh nhân tại Bệnh viện huyện C, thành phố H. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 31/10/2024 D tiếp tục trộm 04 điện thoại di động trị giá 9.200.000 đồng và 600.000 đồng tại phòng bệnh nhân thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh L. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo thực hiện trộm tại 02 địa điểm trên là 20.300.000 đồng (hai mươi triệu ba trăm nghìn đồng).
Quá trình làm việc, bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản do bị cáo D gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản đang thuộc sở hữu của người khác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Văn D với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Văn D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả cho bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm
6
b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[5] Về vật chứng: 01 (một) áo khoác màu xanh; 01 (một) quần jean màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, 01 (một) đôi dép quai ngang màu đen cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền Việt Nam 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong.
[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có việc làm nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
- Về tang vật chứng:
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn D 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/3/2025) để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Căn cứ vào các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác màu xanh; 01 (một) quần jean màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, 01 (một) đôi dép quai ngang màu đen.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước tiền Việt Nam 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng).
Tất cả vật chứng trong vụ án hiện nay do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 27/QĐ-VKS-HS, ngày 04/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
7
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Tuyến |
|
Thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Văn Sở - Lê Thị Đông |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Ngọc Tuyến |
8
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố Nguyễn Văn Dũng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
