|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 19 tháng 3 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lâm Thuận Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Yến Nhi và ông Lương Văn Tâm.
Thư ký phiên toà: ông Bùi Hữu Phước - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: ông Trần Văn Hiền và ông Trần Quách Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 16/2025/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thị Kim T, (còn có tên gọi khác là Chị T1); sinh ngày 09/10/1984 tại thành phố C, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: Số B, hẻm B, tổ A, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang. Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị Đ; chồng Nguyễn Văn L, có 3 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Thị Kim T bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A từ ngày 15/8/2024 đến nay (có mặt).
- Nguyễn Văn L; sinh ngày 20/9/1987 tại thành phố C, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: Tổ A, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang. Nghề nghệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Trương Thị V; vợ: Nguyễn Thị Kim T; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Văn L bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A từ ngày 15/8/2024 đến nay (có mặt).
* Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo Nguyễn Thị Kim T: Ông Huỳnh Văn B – Luật sư Văn phòng Luật sư Huỳnh Văn B; địa chỉ: Số C, Đ, Phường M, Thành phố L, An Giang (có mặt).
* Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo Nguyễn Văn L: Bà Lê Thị C – Luật sư Văn phòng L2; địa chỉ: ố A, ấp L, xã L, huyện C, An Giang (có mặt).
Người có liên quan và người làm chứng: Tất cả đều vắng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/8/2024, khi đang làm nhiệm vụ tại khu vực ngã 4 chốt đèn giao thông dốc cầu C thuộc tổ B, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, Công an thành phố C phát hiện Nguyễn Thị Kim T đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade màu đỏ-đen, biển số 67N7 - 0933 có biểu hiện nghi vấn nên dừng phương tiện kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện T cầm trên tay phải 01 bao thuốc lá hiệu BASTION, bên trong bao thuốc lá có 04 bọc nilon trong suốt hàn kín, một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, tất cả đều chứa ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 10,6440 gam, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và tạm giữ tang vật để điều tra làm rõ.
Cùng ngày, Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Kim T và Nguyễn Văn L (chồng của T) tại Tổ A, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, thu giữ nhiều đoạn ống hút nhựa và bọc nilon chứa ma túy loại Heroin có khối lượng 11,7504 gam và ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 8,2310 gam. Qua làm việc, T và L thừa nhận số ma túy đá (Methamphetamine) và H bị thu giữ là do T mua của Phan Thị T2 (chị dâu của T) để bán lại cho người khác. Ngay sau đó, L bị bắt giữ khẩn cấp để xử lý.
Qua điều tra xác định:
Nguyễn Thị Kim T thường xuyên qua nhà của Phan Thị T2 chơi nên T biết T2 có bán ma túy đá (Methamphetamine) và H. Khoảng tháng 02/2024, để có tiền tiêu xài, T bắt đầu mua ma túy của T2 đem về nhà phân lẻ bán lại cho người nghiện để thu lợi. Trong thời gian T bán ma túy, L thấy T phân lẻ ma túy bán cho người nghiện nên L tham gia giúp T bán ma túy. Cách thức mua bán ma túy là T trực tiếp liên lạc mua ma túy của T2 và phân lẻ ma túy vào các đoạn ống hút nhựa, rồi để các đoạn ống hút này vào nhiều bọc nilon và ghi giá tiền bên ngoài mỗi bọc nilon để bán cho người mua; khi người nghiện cần mua ma túy sẽ trực tiếp đến gặp T hoặc L để thỏa thuận số lượng, loại ma túy cần mua, cách thức giao nhận ma túy và trả tiền mặt hoặc chuyển tiền qua tài khoản S số [...] của Huỳnh Nguyễn Thúy V1 (V1 là cháu của T). Khi người nghiện liên hệ mua ma túy số lượng nhiều thì T sẽ đến gặp T2 mua ma túy, rồi hẹn địa điểm để giao cho người mua. Với cách thức trên, từ tháng 02/2024 đến ngày 15/8/2024, T đã mua ma túy của T2 khoảng 11 lần, mỗi lần khoảng 3,5 gam ma túy loại Heroin với giá 2.500.000 đồng và 2,5 gam ma túy loại Methamphetamine với giá 1.200.000 đồng, đem về nhà phân lẻ cùng với L bán cho nhiều người, cụ thể:
- Từ tháng 5/2024 đến ngày 14/8/2024, Bùi Minh H1 đã mua ma túy của T được 04 lần, mỗi lần 200.000 đồng - 800.000 đồng ma túy loại Heroin và 100.000 đồng ma túy loại Methamphetamine.
- Từ cuối tháng 6/2024 đến ngày 14/8/2024, Vương Hồng Đ1 đã mua ma túy của T được 03 lần, mỗi lần 800.000 đồng ma túy loại Heroin, 100.000 đồng ma túy loại Methamphetamine.
Riêng ngày 14/8/2024, H1 cùng Đ1 đến gặp T, mỗi người mua 800.000 đồng ma túy loại Heroin và 100.000 đồng ma túy Methamphetamine, thanh toán tiền cho T bằng cách chuyển khoản qua tài khoản của V1. Sau đó, H1 và Đ1 đến quán C3 thuộc Tổ B, khóm C, phường V, thành phố C sử dụng được một ít thì bị Công an thành phố C bắt quả tang, thu giữ của H1 1,9825 gam ma túy loại Methamphetamine và H2; thu giữ của Đ1 0,7202 gam ma túy loại Methamphetamine và H2 chưa sử dụng hết.
- - Từ khoảng tháng 4/2024 đến ngày 15/8/2024, Nguyễn Văn N đã mua ma túy loại Heroin và ma túy loại Methamphetamine do T trực tiếp bán nhiều lần, cách 02 - 03 ngày mua 01 lần, mỗi lần 80.000 - 90.000 đồng và L trực tiếp bán 03 lần, mỗi lần 140.000 đồng.
- - Từ khoảng tháng 7/2024 đến ngày 15/8/2024, Nguyễn Thị G đã mua ma túy loại Heroin và ma túy loại Methamphetamine do T trực tiếp bán 04 lần, mỗi lần 90.000 đồng và L trực tiếp bán 01 lần, với giá 90.000 đồng.
- - Từ đầu tháng 8/2024 đến ngày 15/8/2024, Bùi Văn T3 (T) đã mua ma túy loại Heroin và ma túy loại Methamphetamine do T trực tiếp bán 03 lần, mỗi lần 90.000 – 100.000 đồng và mua ma túy loại Methamphetamine do L trực tiếp bán 01 lần, với giá 250.000 đồng.
- - Khoảng tháng 8/2024, Nguyễn Tấn T4 đã mua ma túy loại Methamphetamine do L trực tiếp bán 01 lần, với giá 100.000 đồng.
- - Ngoài ra, T và L còn bán ma túy loại Heroin và ma túy loại Methamphetamine cho nhiều người khác không rõ nhân thân lai lịch, mỗi lần từ 80.000 - 1.000.000 đồng.
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/8/2024, có người nam (chưa rõ nhân thân lai lịch) điện thoại cho T hỏi mua 100 số ma túy đá với giá 4.200.000 đồng. Sau đó, T điện thoại cho T2 mua 100 số ma túy đá với giá 3.700.000 đồng, T2 đem ma túy đến giao tại nhà T, lúc này L đang ngủ nên không biết T mua số ma túy này để bán cho người khác. Sau khi nhận ma túy, T để ma túy vào vỏ bao thuốc lá, cất giấu trong tay áo khoác và điều khiển xe mô tô biển số 67N7 - 0933 đi đến điểm hẹn để giao ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang như nội dung vụ án đã nêu. Trong thời gian bán ma túy, T và L khai thu lợi khoảng 10.000.000 đồng.
Ngày 23/8/2024, T và L bị khởi tố, tạm giam để điều tra.
* Kết luận giám định số 1183/KL-KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A, kết luận:
- + Mẫu M₁ gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 10,6440g.
- + Mẫu M₂, M₄, M₅, M₇, M₈, M₉, M₁₀, M₁₁, M₁₃ gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 5,7730g.
- + Mẫu M₃, M₆, M₁₂ gửi đến giám định là ma túy, loại: Heroin (Heroine) có khối lượng: 8,1230g.
- + Mẫu M₁₄ gửi đến giám định là ma túy, loại: Heroin (Heroine) có khối lượng: 3,6274g.
- + Mẫu M₁₅ gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 2,4580g. (Bút lục số 21 - 22)
* Kết luận giám định số 1171/KL-KTHS ngày 19/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A, kết luận:
- + Mẫu M₁ gửi đến giám định là ma túy, loại: Heroine, khối lượng 0,6512 gam; Mẫu M₂ gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, khối lượng 0,0690 gam. Tổng khối lượng 0,7202 gam (thu giữ của Vương Hồng Đ1).
- + Mẫu M₃, M₅ gửi đến giám định là ma túy, loại: Heroine, khối lượng 1,6863 gam; Mẫu M₄, M₆ gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, khối lượng 0,2962 gam. Tổng khối lượng 1,9825 gam (thu giữ của Bùi Minh H1). (Bút lục số 445-446)
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Thị Kim T và Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án đã nêu và các biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, biên bản nhận dạng vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. (Bút lục số 112 - 183; 245 - 425)
* Vật chứng thu giữ: 03 phong bì được niêm phong (chất ma túy); 01 phong bì được niêm phong (bên trong có 02 điện thoại di động); 01 cân điện tử; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Airblde, màu đỏ đen, biển số 67N7 - 0933; tiền Việt Nam 7.530.000 đồng và các vật chứng khác có liên quan.
Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSAG-P1 ngày 05 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố:
- - Nguyễn Thị Kim T, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- - Nguyễn Văn L, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng.
Người có liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa có lời khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng nêu trên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang luân giữ nguyên tội danh cáo trạng truy tố; căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, đề nghị:
- - Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm r, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T từ 15 đến 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b, điểm p khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 8 đến 9 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Vật chứng vụ án đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và bao bì đã thu giữ; tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền của các bị cáo có được từ mua bán ma túy 7.530.000 đồng; tịch thu phát mãi sung công quỹ Nhà nước điện thoại di động của bị cáo Nguyễn Thị Kim T dùng vào việc phạm tội. Riêng diện thoại di động của bị cáo Nguyễn Văn L không liên quan hành vi phạm tội nên tuyên bố trả cho bị cáo.
Luật sư Huỳnh Văn B bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Kim T và Luật sư Lê Thị C bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L có quan điểm bào chữa thống nhất tội danh Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử quan tâm xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Các bị cáo là vợ chồng có 3 con; chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú khai nhận các lần phạm tội trước ngày bị bắt, tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra sớm kết thúc vụ án. Do các bị cáo đều có 2 tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử có thể xử bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ tác dụng cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa chung. Luật sư bào chữa cho bị cáo L đề nghị Hội đồng xét xử có thể áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử bị cáo L dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng cải tạo đối với bị cáo.
Trong phần đối đáp, một lần nữa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm luận tội đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- - Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Thị Kim T và Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang truy tố. Cụ thể: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/8/2024 tại khu vực tổ B, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, phát hiện quả tang T cất giấu 4 bọc ma túy qua giám định là Methamphetamine có khối lượng 10,6440 gam. Quá trình điều tra xác định T nhiều lần mua ma túy đem về chia nhỏ bán kiếm lời. Để thực hiện việc mua - bán thuận lợi, T đi mua ma túy đem về, cùng chồng là L phân lẻ bán bán ma túy cho các đối tượng nghiện khi đến nhà mua. T cùng với L nhiều lần bán ma túy cho H1 (4 lần), Đ1 (3 lần), G (4 lần). Thái (3 lần). Ngoài ra, T và L còn bán cho nhiều đối tượng khác nhưng không rõ lai lịch. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với tài liệu do cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án; phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng tại Cơ quan điều tra; phù hợp với kết luận giám định số 1183/KL-KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Thị Kim T và Nguyễn Văn L Nguyễn Thị Kim T và Nguyễn Văn L đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ 02 lần trở lên để thu lợi, khối lượng ma túy bị bắt quả tang T phải chịu trách nhiệm là 33,3281 gam, gồm: 19,2402 gam loại Methamphetamine và 14,0879 gam loại Heroine. Lủng phải chịu trách nhiệm là 19,9814 gam (gồm 8,231 gam loại Methamphetamine và 11,7504 gam loại Heroine). Các bị cáo T, L thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy là trái pháp luật, nhưng do hám lợi, nên mua về phân lẻ bán lại cho các con nghiện để kiếm lời. Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì:
- - Hành vi của Nguyễn Thị Kim T và Nguyễn Văn L đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đối với Nguyễn Thị Kim T theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, có khung hình phạt từ 15 đến 20 năm tù, là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Với Nguyễn Văn L theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, có khung hình phạt từ 7 đến 15 năm tù, là tội phạm rất nghiêm trọng.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo về tội phạm trên là hoàn toàn chính xác.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Xuất phát từ động cơ vụ lợi, bị cáo T và L nhiều lần thực hiện mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng (T hơn 33 gam, Lủng hơn 19 gam), gồm chất ma túy loại Methamphetamine và loại Heroin cho các đối tượng nghiện, bất chấp hậu quả gieo rắc cái chết trắng cho cộng đồng. Ngoài ra, hành vi của các bị cáo còn ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Thời gian qua, trên địa bàn thành phố C các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, là công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo T là người giữ vai trò chủ mưu trong vụ án, bị cáo nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích mua số lượng lớn đem về phân lẻ bán cho con nghiện để kiếm lời. Bị cáo L là chồng, là con nghiện nhưng không khuyên răn vợ lo tu chí làm ăn mà tham gia vai trò giúp sức với bị cáo T, trực tiếp nhiều lần bán ma túy cho nhiều đối tượng nghiện.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử nhận thấy mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội các bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là vợ chồng đang nuôi 3 con nhỏ, không nghề nghiệp ổn định; học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế, theo quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; các bị cáo tự thú các lần phạm tội trước nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T phạm tội từ 2 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Tại phiên tòa, quan điểm của Luật sư Lê Thị C bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt không có căn cứ chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Tuy nhiên, các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hiện điều kiện hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Đối với các đối tượng gồm:
- - Phan Thị T2, T khai mua ma túy của T2, hiện T2 đã bỏ đi khỏi địa phương, chưa làm việc được. Cơ quan điều tra Công an tỉnh A đang tiếp tục điều tra thu thập tài liệu chứng cứ để xử lý sau.
- - Bùi Minh H1, Vương Hồng Đ1 là người mua ma túy của Nguyễn Thị Kim T, đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh An Giang khởi tố, điều tra về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” trong vụ án khác.
- - Huỳnh Nguyễn Thúy V1 cho Nguyễn Thị Kim T mượn tài khoản Ngân hàng S số [...] để T nhận tiền mua bán ma túy, nhưng V1 không biết việc T sử dụng tài khoản ngân hàng thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với V1 là phù hợp.
- - Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị G, Bùi Văn T3 và Nguyễn Tấn T4 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị chính quyền địa phương nơi cư trú xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.
[7] Về vật chứng:
Đối với số ma túy và bao gói ma túy hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu để tiêu hủy. Đối với số tiền 7.530.000 đồng thu giữ tại nhà của các bị cáo xác định là tiền mua bán ma túy mà có nên tuyên bố tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo T, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tuyên bố tịch thu phát mãi sung công quỹ Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn L, do không liên quan hành vi phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo.
[8] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T 16 (Mười sáu) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15/8/2024).
- - Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt bị cáo Nguyễn Văn L 8 (Tám) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15/8/2024).
“Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trả lại tài sản, tịch thu phát mãi sung công quỹ Nhà nước, tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
* Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
- 01 (một) gói niêm phong (Vụ số: 1183/KL-KTHS ngày 21 tháng 8 năm 2024, Kí hiệu M1) có in hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H3, Trần Phương C1. Bên trong là mẫu vật M1 còn lại sau khi đã giám định chất ma tuý.
- 01 (một) gói niêm phong (Vụ số: 1183/KL-KTHS ngày 21 tháng 8 năm 2024, kí hiệu M2 đến M13) có in hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố C, tỉnh An Giang và các chữ kỹ ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H3, Trần Phương C1. Bên trong là mẫu vật M1 còn lại sau khi đã giám định chất ma túy.
- 01 (một) gói niêm phong (Vụ số: 1183/KL-KTHS ngày 21 tháng 8 năm 2024, kí hiệu M14+M15) có in hình dâu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H3, Trần Phương C1. Bên trong là mẫu vật M1 còn lại sau khi đã giám định chất ma tuý.
- 01 (một) một phong bì màu trắng được niêm phong, bên ngoài ghi "Vụ: 1556/KL-KTHS ngày 06 tháng 12 năm 2024" ", có chữ ký, chữ việt mang tên Giáp Thanh T6 và Lê Thành C2 và dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A.
- 01 (một) túi vải hai ngăn, hiệu adidas, màu đen.
- 01 (một) bóp da màu đen, hai ngăn.
- 01. (một) túi vải màu nâu.
- 01 (một) cân điện tử.
- 01 (một) hộp gỗ có nắp đậy, màu nâu.
- 01 (một) cây kéo kim loại, cán bằng nhựa, màu đen.
- 01 (một) bật lửa.
- 08 (tám) đoạn ống hút nhựa trong suốt, hàn kín một đầu, một đầu vạt nhọn.
- 01 (một) đoạn ống hút nhựa trong suốt, sọc xanh, hàn kín một đầu, một đầu vật nhọn.
- 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô, số: 66V1-171.57.
- 01 (một) cây búa, lưỡi kim loại, cán gỗ.
- 01 (một) cây dao kim loại, cán sắt quấn cao su màu đen.
- 01 (một) cây ống tuýp kim loại.
- 01 (một) bọc ống hút nhựa, gồm: 20 (hai mươi) ống hút nhựa màu xanh lá cây, sọc trắng; 20 (hai mươi) ống hút nhựa màu đỏ, sọc trắng; 20 (hai mươi) ống hút nhựa màu trong suốt, sọc trắng; 20 (hai mươi) ống hút nhựa màu vàng, sọc trắng; 20 (hai mươi) ống hút nhựa màu xanh nước biển, sọc trắng.
- 01 (một) chay gas mini đã qua sử dụng.
- 01 (một) cây dao kim loại, cán gỗ quần băng keo màu đen.
- 01 (một) cây dao kim loại, cán nhựa màu đen.
- 01 (một) cây dao kim loại, cán gỗ quấn băng keo màu đen.
- 01 (một) cây ống tuýp kim loại.
- 01 (một) ống tuýp kim loại, một đầu vạt nhọn.
- 01 (một) cây búa kim loại, cán gỗ.
- 01 (một) cây dao kim loại, cán gỗ quấn lớp da màu nâu.
- 01 (một) ống tuýp kim loại, một đầu có gắn cây kim loại nhọn.
- 01 (một) móc nước đá kim loại.
- 245 (hai trăm bốn mươi lăm) bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viên màu đỏ.
- 85 (tám mươi lăm) bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu xanh nước biên.
- 50 (năm mươi) bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu xanh lá cây.
- 01 (một) cây ống tuýp bằng kim loại, một đầu có gắn lưỡi cưa bằng kim loại.
- 01 (một) cây búa kim loại, cán nhựa.
- 01 (một) cây gắp kim loại.
- 02 (hai) quẹt gas (màu vàng và màu đen).
- 02 (hai) cây kéo kim loại.
Tất cả gồm 36 khoản (422 vật chứng).
- * Tich thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 7.530.000 đồng. Theo Ủy nhiệm chi số: 01 ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Kho bạc nhà nước tỉnh A.
- * Tịch thu phát mãi sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO, model: Vivo Y16 (đã qua giám định).
- * Trả lại cho Nguyễn Văn L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, model: Galaxy A32, bên trong có gắn 01 sim số 0926843651 (đã qua sử dụng).
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Phạm Yến Nhi Lương Văn Tâm |
Lâm Thuận Tùng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lâm Thuận Tùng |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ma túy
