|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày: 19-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lò Văn Dưỡng.
- Ông Cầm Văn On.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên tòa:
Ông Mai Văn Quyết – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 07/3/2025, đối với bị cáo:
Tòng Văn K, tên gọi khác: Không, sinh năm 1974; số định danh cá nhân: 014074002353; nơi cư trú: Bản L, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Tòng Văn Y và con bà: Lò Thị P; vợ Vì Thị C, có 04 người con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 24/12/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lường Thị T – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Vì Thị C, sinh năm 1977 (vợ bị cáo). Nơi cư trú: Bản L, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Anh Tòng Văn N, sinh năm 2005 (con bị cáo). Nơi cư trú: Bản L, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 05 phút ngày 24/12/2024, tổ công tác Công an huyện S phối hợp với Công an xã N và Đồn biên phòng N1 làm nhiệm vụ tại khu vực bản Lạnh, xã N, huyện S phát hiện bắt quả tang Tòng Văn K về hành vi mua bán trái phép 04 chân động vật hoang dã nghi là chân gấu. Vật chứng thu giữ: Thu trên sàn nhà của Tòng Văn K 01 bao tải màu vàng bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa 04 chân động vật, Tòng Văn K khai là chân gấu.
Ngày 24/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành khám xét khẩn cấp theo Lệnh khám xét khẩn cấp số 323/LKX-HSKTMT ngày 24/12/2024, kết quả:
- - Tại gian thứ 3, nhà ở của Tòng Văn K thu giữ: Trên bàn gỗ uống nước có 01 cục nhựa màu nâu đen để trong vỏ bao nilon màu trắng nghi là thuốc phiện, vật chứng được niêm phong trong phong bì có số seri 093078;
- - Tại góc nhà bên phải gian thứ nhất phát hiện 01 ba lô bằng vải màu đen không rõ nhãn hiệu, bên trong có 02 gói nilon màu trắng đều chứa nhựa màu nâu đen nghi là nhựa thuốc phiện. Vật chứng được niêm phong trong hộp cát tông dán giấy niêm phong có 02 số seri lần lượt là 093079 và 093080.
- - Trong ngăn tủ gỗ bên dưới thứ hai nhìn từ trái sang phải có 02 túi nilon màu trắng bên trong có chất bột màu đen nghi là thuốc súng, 01 túi ni lon màu trắng bên trong có nhiều viên kim loại hình cầu nghi để sử dụng làm đạn súng kíp; 03 vỉ một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng mỗi vỉ gắn 75 hạt hình tròn nghi là hạt nổ dùng cho súng kíp;
- - Trong túi xách màu đen để tại ngăn tủ ngoài cùng bên phải có 4.690.000 đồng, trong két sắt có 70.300.000 đồng. Tổng số tiền 74.990.000 đồng.
Ngày 26/12/2024, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành mở niêm phong cân tịnh, lấy mẫu giám định đối với vật chứng nghi là ma túy, vật liệu nổ, chân động vật nghi là chân gấu thu giữ của Tòng Văn K.
- Cân tịnh vật chứng nghi là ma túy:
- + Cân tách bì vật chứng nghi là thuốc phiện trong phong bì niêm phong có số seri 093078 phát hiện tại gian nhà thứ 03 có khối lượng 0,47 gam, lấy hết làm mẫu giám định, ký hiệu K1.
- + Cân tách bì gói thứ nhất niêm phong trong hộp cát tông thu tại gian nhà thứ nhất có khối lượng 209,56 gam, lấy 2,7 gam làm mẫu giám định ký hiệu K2. Còn lại 206,86 gam, ký hiệu K3 lưu kho vật chứng.
- + Cân tách bì gói thứ hai niêm phong trong hộp cát tông thu tại gian nhà thứ nhất có khối lượng 327,27 gam, lấy 2,94 gam làm mẫu giám định ký hiệu K4. Còn lại 324,33 gam, ký hiệu K5 lưu kho vật chứng. Tổng số vật chứng thu giữ 537,3 gam.
- Cân tịnh vật chứng nghi là thuốc nổ, kết quả:
- + Cân gói vật chứng thứ nhất có khối lượng 102,51 gam, lấy 06 gam làm mẫu giám định ký hiệu T1. Còn lại 96,51 gam lưu kho vật chứng ký hiệu T2.
- + Cân gói vật chứng thứ hai có khối lượng 230 gam lấy 9,62 gam làm mẫu giám định ký hiệu T3. Còn lại 220,38 gam lưu kho vật chứng ký hiệu T5. Tổng số vật chứng thu giữ 332,51 gam.
- Kiểm đếm vật chứng nghi là hạt nổ, kết quả: 03 vỉ giấy một mặt màu đỏ, mỗi vỉ đều có 75 viên hạt hình tròn, tổng số 225 viên. Lấy mỗi vỉ 05 viên ký hiệu lần lượt là T5, T7, T9 làm mẫu giám định. Còn lại mỗi vỉ 70 viên ký hiệu lần lượt là T6, T8, T10 lưu kho vật chứng.
- Cân tịnh chân động vật nghi là chân gấu: Chân thứ nhất có khối lượng 1,58 kg, ký hiệu V01. Chân thứ hai có khối lượng 1,40 kg, ký hiệu V02. Chân thứ ba có khối lượng 1,67 kg, ký hiệu V03. Chân thứ tư có khối lượng 1,69 kg, ký hiệu V04. Tổng khối lượng 04 chân là 6,34 kg.
Kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 30/12/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh S, kết luận:
“Mẫu ký hiệu K1, K2, K4 gửi giám định là ma túy; Loại Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện); Khối lượng của mẫu gửi giám định là K1 = 0,47 gam, K2 = 2,7 gam, K4 = 2,94 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ 537,3 gam; Loại thuốc phiện (nhựa thuốc phiện).
Kết luận giám định số 9258/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận:
“Chất bột màu đen bên trong một túi nilon màu trắng (ký hiệu T1) và 01 túi nilon màu trắng (ký hiệu T3) đều là thuốc nổ đen, Thuốc nổ đen là thuốc nổ yếu thường dùng được làm liều phóng trong các loại đạn, trong dây cháy chậm... và thuộc nhóm vật liệu nổ, hiện đang còn sử dụng được.
05 hạt hình tròn (ký hiệu T5; 05 hạt hình tròn (ký hiệu T7) và 05 hạt hình tròn (ký hiệu T9) đều là hạt nổ. Hạt nổ thuộc phụ kiện nổ trong nhóm vật liệu nổ. Hạt nổ có tác dụng phát lửa đốt cháy liều thuốc phóng trong các loại đạn tự chế, hiện đều còn sử dụng được”.
Kết luận giám định hình thái động vật số 50/STTNSV ngày 10/01/2025 của V, kết luận:
“Xác định tên loài cho mẫu vật:
04 (bốn) chân động vật ký hiệu V01, V02, V03 và V04 (được mô tả theo Quyết định trưng cầu trên) là của loài Gấu chó (H), thuộc lớp thú (M).
Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật:
- Loài gấu chó (H) có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐCP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
- Loài gấu chó (Helarctos malayanus) có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐCP ngày 16/07/2019 của Chính phủ.
- Loài gấu chó (H) có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 12/02/2023 của Cơ quan quản lý C1.
Cơ quan giám định đã hoàn trả lại mẫu giám định cho cơ quan trưng cầu”.
Quá trình Điều tra xác định được như sau:
Khoảng giữa tháng 12/2024, Tòng Văn K đang đi bộ trên đường trong bản thì có một người đàn ông dân tộc Mông đeo khẩu trang tự giới thiệu tên là S ở bản P, xã M, huyện S đi xe mô tô hiệu Wave mang theo một bao tải màu cam đến gặp K, gạ bán chân gấu. K đồng ý mua và đưa người đó về nhà mình để thỏa thuận việc mua bán, về đến nơi S mở bao tải ra bên trong có 04 chân gấu được bọc bằng 01 túi nilon màu trắng, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc, hai bên thỏa thuận 04 chân gấu với giá 2.700.000 đồng. Mua được 04 chân gấu, K cho vào tủ lạnh để trong gian bếp cất giấu và bảo quản với mục đích có người mua thì bán kiếm lời. Đến chiều ngày 23/12/2024 có một người đàn ông không quen biết giới thiệu nhà ở xã S, huyện S đi mua ngô, sắn gặp K đang ở nhà, người đó hỏi K “có ngô, sắn bán không” K trả lời không có. Sau đó người đó hỏi tiếp “có đồ rừng bán không”, thì K trả lời có 01 bộ chân gấu muốn bán, người đó hẹn đến ngày hôm sau sẽ quay lại xem và thỏa thuận giá. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/12/2024 người đàn ông quay trở lại, K lấy 04 chân gấu ra để ở sàn nhà cho người đó xem sau đó hai bên thỏa thuận 04 chân gấu giá 3.500.000 đồng nhưng vì chưa có tiền nên người đàn ông hẹn ngày hôm sau mới đem tiền đến mua chân gấu. Cùng lúc này, tổ công tác Công an huyện S làm nhiệm vụ vào kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng, người đàn ông bỏ chạy, tổ công tác truy đuổi nhưng không bắt được.
Đối với nguồn gốc số thuốc phiện bị thu giữ, Tòng Văn K khai nhận khoảng cuối năm 2022, K đi mua hạt bí ở khu vực Biên giới Việt Nam – Lào thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tự giới thiệu ở bản H, huyện M, tỉnh Hủa Phăn nước Cộng hòa DCND Lào do bị bệnh viêm phổi K đã chủ động hỏi mua được của người đó số thuốc phiện trên với giá 1.800.000 đồng mục đích đem về sử dụng để chữa bệnh. Sau khi mua được ma túy K đem về cất giấu trong tủ không cho ai biết. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/12/2024 K lấy một ít thuốc phiện ra để trong mảnh nilon đặt trên bàn uống nước chưa kịp sử dụng thì người đàn ông đến mua chân gấu đến, việc mua bán đang thực hiện thì bị tổ công tác Công an huyện S phát hiện bắt quả tang, người đến mua chân gấu chạy thoát. Sau đó tổ công tác giữ nguyên hiện trường tiến hành khám xét khẩn cấp phát hiện và thu giữ số tang vật nêu trên.
Đối với 332,51 gam thuốc nổ và 225 hạt nổ Tòng Văn K khai nhận, vào khoảng năm 2020, trong quá trình đi lại tại khu vực Biên giới Việt Nam – Lào thì gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua được số thuốc nổ và hạt nổ trên với giá 200.000 đồng, mục đích đem về sử dụng cho súng kíp (súng tự chế) để săn thú. Tuy nhiên, Nhà nước cấm sử dụng súng kíp nên số thuốc nổ trên không được sử dụng nên K vẫn cất giấu trong nhà. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã ra Quyết định tách vụ án hình sự và Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp đã ra Quyết định chuyển vụ án hình sự số 02/QĐ-VKSSC ngày 13/01/2025, chuyển vụ án Tàng trữ trái phép vật liệu nổ đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh S để điều tra theo thẩm quyền.
Cáo trạng số: 04/CT-VKSSC ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, truy tố Tòng Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- - Bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.
- - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều ý kiến: Là vợ, con của bị cáo, việc Toà án xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội. Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất. Ngoài ra, số tiền bị tạm giữ là tài sản chung của gia đình nên đề nghị được trả lại.
- - Kiểm sát viên sau khi trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm b khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo:
- + Từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; phạt bổ sung bị cáo từ: 10.000.000 đến 15.000.000 đồng.
- + Từ 18 đến 24 tháng tù về tội tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.
- + Vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 04 chân gấu và số ma tuý (thuốc phiện) thu giữ của bị cáo; trả lại cho gia đình bị cáo số tiền bị tạm giữ.
- + Bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải chịu án phí;
- + Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo.
- - Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Đồng tình với quan điểm của Viện kiểm sát. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
- - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an huyện S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về các chứng cứ xác định tội danh:
- - Ngày 24/12/2024, Tòng Văn K bị tổ Công tác Công an huyện S phát hiện bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi mua bán 04 chân gấu chó (H), có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐCP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Loài gấu chó (H) có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐCP ngày 16/07/2019 của Chính phủ. Loài gấu chó (H) có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 12/02/2023 của Cơ quan quản lý C1.
- - Cùng ngày, khám xét khẩn cấp nhà Tòng Văn K thu giữ thêm 537,3 gam mà tuý, thuộc loại Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện), mục đích Tàng trữ để sử dụng cho bản thân.
- - Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và lời khai của người chứng kiến; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Tòng Văn K đã phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự.
Như vậy, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo về các tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo có bố là ông Tòng Văn Y được tặng thưởng Huân Chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì; có mẹ là bà Lò Thị P1 được tặng thưởng Huân Chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba và bị cáo đang mắc bệnh viêm phổi và tràn dịch màng phổi điều trị lâu ngày chưa khỏi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được pháp luật quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng.
[4] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:
- - Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy và vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
- - Bị cáo là người có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung. Bị cáo phạm 02 tội, cần tổng hợp buộc bị cáo phải chấp hành.
[5] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án:
- - Đối với số ma tuý thu giữ được trong vụ án, bị cáo khai mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, quốc tịch nước Cộng hòa DCND Lào tại khu vực biên giới Việt Nam – Lào. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của bị cáo không có căn cứ nào khác để xác định được người đó là ai nên không có căn cứ để xử lý là có căn cứ, cần chấp nhận.
- - Đối với người tên là S ở bản P, xã M, huyện S là người đã bán chân gấu cho bị cáo. Quá trình điều tra xác minh tại bản Pá Khoang, xã M, huyện S không có người đàn ông tên S như bị cáo khai nên không có căn cứ để xử lý.
- - Đối với người hỏi mua chân gấu, Tòng Văn K khai không biết tên, chỉ biết người đó ở xã S, huyện S. Quá trình điều tra không xác định được người đó là ai nên không có căn cứ để xử lý.
[6] Vật chứng của vụ án còn lại: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung tạm giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo; 521,19 gam thuốc phiện là vật cấm lưu hành; 04 chân gấu bị cắt móng, 01 túi xách bằng da màu đen, không rõ nhãn hiệu và 01 balo bằng vải, màu đen, không rõ nhãn hiệu đều là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với số tiền 74.990.000 đồng tạm giữ tại nhà bị cáo, xác định được không liên quan đến việc phạm tội nên cần xem xét trả lại cho gia đình bị cáo, (người đại diện anh Tòng Văn N).
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có tài sản nên cần áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo thuộc trường hợp được miễn, nên không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9] Về quan điểm của Kiểm sát viên và Luật sư như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm e khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Tòng Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.
- - Xử phạt: Tòng Văn K 05 năm tù (năm năm), về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- - Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
- - Xử phạt: Tòng Văn K 18 tháng tù (mười tám tháng), về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.
Tổng hợp hình phạt là 06 năm 06 tháng tù (sáu năm sáu tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/12/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng sau:
- + 01 hộp cát tông niêm phong ban đầu, 01 vỏ bao nilon màu trắng; 01 túi nilon màu đen; 01 túi nilon màu trắng đựng vật chứng ban đầu bên trong chứa 01 cục nhựa thực vật màu nâu đen có tổng khối lượng 206,86 gam, ký hiệu K3 được bọc bằng lớp giấy màu trắng ban đầu; 01 túi nilon màu trắng đựng vật chứng ban đầu bên trong chứa 01 cục nhựa thực vật màu nâu đen có tổng khối lượng 324,33 gam, ký hiệu K5 được bọc bằng lớp giấy màu trắng ban đầu; toàn bộ được đựng trong 01 (một) phong bì thư màu trắng do Công an huyện S phát hành đã niêm phong kín.
- + 01 (một) túi xách bằng da, màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, cũ và 01 (một) ba lo bằng vải, màu đen, đã qua sử dụng, cũ.
- + 01 bao tải dứa màu cam, 01 tui nilon màu trắng đựng vật chứng ban đầu, 04 chân động vật ký hiệu V01, V02, V03, V04, mỗi chân đã bị cắt lại 01 ngón; toàn bộ được đựng trong 01 (một) thùng xốp được niêm phong theo quy định.
- (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 05 ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát huyện S và biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2025 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an sự huyện S, tỉnh Sơn La).
- Trả lại cho anh: Tòng Văn N số tiền 74.990.000 đồng.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M10.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 19/3/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Quyết |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm)
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòng Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
