|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 18-3-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Đặng Kim Dũng
Ông Phạm Thanh Giản
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trang Thanh - Thư ký Toà án nhân dân
quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Dương Kinh, thành phố Hải
Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đình Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân L, sinh ngày 18 tháng 7 năm 1997 tại Tuyên Quang. Nơi thường trú: thôn C, xã Q, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; nơi tạm trú: tổ dân phố P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân N và bà Hà Thị Đ; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 06/11/2024 đến ngày 14/11/2024 chuyển tạm giam. Ngày 10/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH Đ1 (Việt Nam); địa chỉ: TDP T, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Người đại diện hợp pháp: Bà Vũ Việt H – Trưởng phòng hành chính nhân sự Công ty TNHH Đ1 (Việt Nam) (theo giấy ủy quyền số 0632025/UQ-LK ngày 05 tháng 3 năm 2025); vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Thị P, nơi cư trú: TDP T, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Xuân L là công nhân của Công ty TNHH Đ1 (Việt Nam) (sau đây viết tắt là Công ty Đ1), địa chỉ: tổ dân phố T, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Khoảng tháng 9/2024 L được phân công hỗ trợ lắp điện tại kho thành phẩm số 02 thuộc khu N của Công ty Đ1. Quá trình làm việc L phát hiện trong kho cơ điện của Công ty Đ1 có 02 cuộn dây cáp điện lõi đồng nên nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. Từ cuối tháng 9/2024 đến ngày 5/10/2024 L đã hai lần trộm cắp dây cáp điện của Công ty Đ1, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng cuối tháng 9/2024, L điều khiển xe nâng phụ giúp công việc lắp đặt điện tại kho thành phẩm số B, đến 18 giờ cùng ngày L quan sát thấy kho cơ điện không có người trông coi nên đã sử dụng máy cắt cầm tay của Công ty Đ1 cắt 20m dây cáp điện cất giấu trên nóc xe nâng rồi điều khiển xe nâng về kho thành phẩm số 1 và để cuộn dây cáp điện dưới gầm cầu thang, sau đó L cắt dây điện thành nhiều đoạn và dùng dao rọc giấy tước vỏ nhựa rồi lấy băng dính bọc số lõi đồng lại cho vào túi nilon, khi hết giờ làm việc L đem số lõi đồng cho lên xe mô tô biển kiểm soát 22B1 - 88.227 rồi chở đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Đỗ Thị P, địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng bán với giá 5.270.000 đồng, số tiền này L đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai: vào khoảng 18 giờ ngày 05/10/2024, L quan sát thấy kho cơ điện không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp dây cáp điện, L đã thực hiện cách thức như lần thứ nhất và lấy trộm được 10m dây điện của Công ty Đ1, sau đó bán cho chị P với giá 2.100.000 đồng, số tiền này L đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi Công ty Đ1 phát hiện bị mất tài sản nên trình báo Công an phường H, quận D. Ngày 06/11/2024 Nguyễn Xuân L đã đến Công an phường H đầu thú và giao nộp xe mô tô biển kiểm soát 22B1 - 88.227.
Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 12/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận D, kết luận: 20 mét dây cáp CVX (1x185) có giá 10.363.400 đồng; 10 mét dây cáp CVX (1x185) có giá 5.181.700 đồng. Tổng giá trị 15.545.100 đồng
Ngày 06/11/2024, chị Đỗ Thị P đã tự nguyên giao nộp cho Cơ quan Công an 01 bao dứa màu xanh cân nặng 10,5 kg, bên trong có chứa nhiều thanh kim loại màu vàng đã mua của Nguyễn Xuân L vào ngày 05/11/2024, số kim loại mua của L cuối tháng 9/2024 chị P đã bán nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Vật chứng: 01 xe mô tô biển kiểm soát 22B1-882.27 là tài sản của anh Nguyễn Đình D, sinh năm 1995, địa chỉ: xóm C, xã Q, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (anh trai L). Anh D cho L mượn và không biết L sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả cho anh D; 01 bao dứa màu xanh cân nặng 10,5 kg bên trong có chứa các thanh kim loại màu vàng được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D trả lại cho chủ sở hữu Công ty Đ1.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Xuân L đã tự nguyện bồi thường 15.000.000 đồng cho Công ty Đ1, đại diện Công ty Đ1 không có yêu cầu gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Chị Đỗ Thị P không yêu cầu L phải trả lại số tiền 7.370.000 đồng đã mua lõi dây cáp điện.
Đối với Đỗ Thị P, khi mua lõi dây cáp điện của L không biết đó là tài sản do L trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D không có căn cứ xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 24 tháng 02 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Xuân L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh tại phiên tòa trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L với mức án từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong, không đề nghị xem xét giải quyết. Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Từ cuối tháng 9 năm 2024 đến ngày 05 tháng 10 năm 2024, tại tổ dân phố T, phường H, quận D Nguyễn Xuân L đã 02 lần có hành vi lén lút chiếm đoạt dây cáp điện của Công ty TNHH Đ1: lần thứ nhất chiếm đoạt dây cáp điện có trị giá 10.363.400 đồng, lần thứ hai chiếm đoạt dây cáp điện có trị giá 5.181.700 đồng, tổng trị giá bị cáo chiếm đoạt là 15.545.100 đồng. Hành vi của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản với số tiền chiếm đoạt mỗi lần trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; đại diện bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo có ông nội được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng Hạng ba nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp cá nhân là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2); bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung; đồng thời còn thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra nên Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân L phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Xuân L cho UBND phường H, quận D, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh đối với bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, miễn giảm, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Dung |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân L - Trộm cắp TS
