|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18-3-2025 V/v tranh chấp Hôn nhân & gia đình |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và ông Nguyễn Hạ Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 387/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Anh Tạ Văn T - sinh năm 1992 (có đơn xin vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã H, huyện Ứ, TP .
*Bị đơn: Chị Trần Thị N – sinh năm 1992 (vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã H, huyện Ứ, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn ly hôn và các buổi làm việc tại Tòa anh Tạ Văn T là nguyên đơn trình bày: anh và chị Trần Thị N qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V (nay là xã H) năm 2013. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung; cái tôi của mỗi người quá lớn nên không thể hòa hợp được với nhau; vợ chồng liên tục xích mích nhau cãi nhau thường xuyên. Vì vậy, hai vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2017, không có trách nhiệm với nhau; thỉnh thoảng chị N gọi điện và về thăm các con; còn chuyện vợ chồng thì không ai liên quan đến ai. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, ly thân đã lâu mục đích hôn nhân không đạt nên anh cương quyết xin ly hôn chị N. Về con chung: có 02 con là Tạ Minh N1 – sinh ngày 04/9/2014 và Tạ Minh N2 – sinh ngày 24/11/2016. Anh đề nghị Toà giải quyết cho anh được nuôi cả 02 người con và không đề nghị Toà giải quyết tiền cấp dưỡng nuôi con. Vì cả hai con đều có nguyện vọng ở với anh. Từ khi ly thân, chị N chỉ gọi điện, thỉnh thoảng về thăm con nhưng chưa bao giờ mua cho con một bộ quần áo; cho con vỉ sữa hay đỡ đần anh tiền học của các con. Hiện tại các cháu ở ổn định với anh và ông bà nội nhiều năm nay, anh làm nghề lái xe thuê nên thu nhập của anh được khoảng 15.000.000đ/tháng. Về tài sản, công nợ chung: anh không đề nghị Toà giải quyết.
Bị đơn – chị Trần Thị N không có quan điểm ý kiến.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt; các đương sự không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ và đều không có ý kiến thay đổi khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa có quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết xử cho anh Tạ Văn T được ly hôn chị Trần Thị N. Về con chung: giao anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Tạ Minh N1 – sinh ngày 04/9/2014 và Tạ Minh N2 – sinh ngày 24/11/2016; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với chị N. Anh T1 phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ®îc thÈm tra t'i phiên Toμ vμ c¨n cø vμo kÕt qu¶ tranh luËn t'i phiên toμ, ý kiÕn cña c¸c ®¬ng sù, H ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:
[1] Về tố tụng:
Về phạm vi khởi kiện, quan hệ pháp luật: Anh Tạ Văn T có đơn xin đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa giải quyết cho anh được ly hôn chị Trần Thị N và giải quyết về con chung. Do vậy, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS.
Về thẩm quyền: Quan hệ pháp luật là tranh chấp Hôn nhân và gia đình, bị đơn là chị Trần Thị N có đăng ký nơi cư trú: thôn P, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Hội đồng xét xử đã mở phiên toà ngày 28/02/2025 nhưng vắng mặt của chị N nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, tại phiên toà hôm nay mặc dù được triệu tập hợp lệ lần thứ hai chị N vắng mặt không có lý do chính đáng, anh T có đơn xin vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.
Về chứng cứ: Toà đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp đối với đương sự vắng mặt. Các đương sự đã được tiếp cận toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ do các đương sự cung cấp, Toà thu thập; không có ý kiến nào phản đối về chứng cứ; các đương sự không nộp tài liệu chứng cứ nào khác. Do vậy, những tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết, đủ điều kiện là chứng cứ theo Điều 92, Điều 93 của BLTTDS.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Tạ Văn T và chị Trần Thị N đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã H, huyện Ứ, TP . ngày 05/4/2013 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thì thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm thấy tiếng nói chung; vợ chồng sống ly thân nhiều năm nay. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: cuộc sống chung giữa vợ chồng anh T và chị N mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân mấy năm. Nay anh T có đơn ly hôn, chính quyền địa phương có ý kiến: đề nghị Tòa căn cứ vào thực tế và quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.
Xét thấy: cuộc sống hôn nhân của anh T và chị N mâu thuẫn đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của anh T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
[3] Về con chung: Anh Tạ Văn T và chị Trần Thị N có 02 con chung Tạ Minh N1 – sinh ngày 04/9/2014 và Tạ Minh N2 – sinh ngày 24/11/2016.
Xét về điều kiện chăm sóc, môi trường sinh hoạt và nguyện vọng của cháu thì Hội đồng xét xử thấy: anh T và chị N đều chưa có nhà riêng; hai anh chị đều là lao động tự do nên về chỗ ở, điều kiện kinh tế ngang nhau. Xong thời gian sống ly thân, các con đều ở với anh T và ông bà nội; bản thân các cháu đều có nguyện vọng ở với bố. Địa phương cũng có quan điểm: đề nghị Toà căn cứ thực tế và quy định pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi, sự phát triển tâm sinh lý của trẻ nhỏ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao anh T nuôi cháu N1, cháu N2 là phù hợp, đảm bảo cho các cháu được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nhất là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh T1 không đề nghị giải quyết tiền cấp dưỡng nên tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với chị N cho đến khi có thay đổi khác; chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản, công nợ chung: Anh Tạ Văn T và chị Trần Thị N không đề nghị Tòa giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Tạ Văn T phải nộp án phí ly hôn. Các đương sự đều được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Tạ Văn T được ly hôn chị Trần Thị N.
- Về con chung: Anh Tạ Văn T và chị Trần Thị N có 02 con chung. Khi ly hôn, giao anh T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con C là cháu Tạ Minh N1 – sinh ngày 04/9/2014 và Tạ Minh N2 – sinh ngày 24/11/2016; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với chị N cho đến khi có đề nghị thay đổi khác. Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ chung: Anh Tạ Văn T và chị Trần Thị N đều không đề nghị Toà giải quyết.
- Về án phí: Anh Tạ Văn T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0012077 ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, TP ..
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thiện |
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 16/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA
